Seminarian
| Trang Trước | Mục Lục | Trang Kế Tiếp |


TIẾNG NGÀI GỌI

Sơ Trần Thị Oanh, SSpS
Nữ Tu Việt Nam đầu tiên của Dòng Nữ Chúa Thánh Thần,
Dòng có cùng Vị Sáng Lập Dòng Truyền Giáo Ngôi Lời.

Rất nhiều lần gìữa những cuộc hội họp tôi đã phải đương đầu với câu hỏi chất vấn "Tại sao Sơ đi tu?". Một số hỏi vì lòng thật, số khác vì tò mò hoặc có vẻ thương tiếc dùm cho tôi. Có nhiều khi nửa đùa nửa thật tôi trả lời “Không ai thương nên đành phải đi tu.” Hôm nay nhận được cánh thư từ Chicago gửi đến, quý thầy xin tôi chia sẻ ít hàng về “ơn gọi”, con đường tôi chọn. Hy vọng những lời đơn sơ này, ít nhiều người đọc sẽ cùng với tôi hiểu ra được, thế nào là tình yêu của Thiên Chúa cho con người và cho riêng đời tôi.

Lớn lên trong vùng có nhiều tu viện xung quanh, bỗng nhiên tôi mến chiếc áo dòng, và rồi ước mơ làm ma-xơ nảy sinh. Giấc mơ của tuổi nhỏ thì đơn sơ, khờ dại. Cùng với một cô bạn thân, hai chúng tôi mạnh dạn vào Đa Minh Thủ Đức xin đi tu. Bề trên chỉ nhìn và bảo “Thôi thì cứ cuối tuần vào đây học hỏi giáo lý chung với các chị đệ tử.” Thời gian sống với các chị Đa Minh chưa được bao lâu, thì tôi rời làng xóm thân yêu ra đi vào tháng 5 năm 1981. Ba ngày đêm lênh đênh trên mặt biển, chả còn gì hết, tất cả chỉ chờ đợi cái chết. Dưới gầm tàu nửa tỉnh nửa mê tôi không van xin khấn nguyện, bởi hy vọng thật sự chẳng còn, tôi chỉ đặt câu hỏi “Con chết thật sao Chúa?” Để chất vấn với thượng đế, đấng mà tôi vốn tin là quyền năng, toàn vẹn. Và rồi không có câu trả lời, chung quanh chỉ là im lặng với sợ hãi. Biển tháng năm của những ngày toi đi thật êm đềm, không một chút sóng, không một lần gian nan bởi cướp bóc, có lẽ chính vì vậy mà lòng tôi thật chua xót, đắng cay khi biết mình sắp phải chết, chết một cách oan uổng. Bỗng một bác lớn tuổi trên tàu đưa ra một đề nghị “Dù thế nào chúng ta cũng phải đặt hết hy vọng vào Trời, Phật, Thiên Chúa, ai tin Phật thì vái Phật, ai đạo công giáo thì cầu xin Chúa. Cố gắng lên, phải còn hy vọng.” Tôi bắt đầu thì thầm cầu nguyện, cầu mong cho mình một cái chết bình an hơn là sớm tìm được bến bờ tự do. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, như một phép lạ, một hồng ân, chiếc tàu buôn Hòa Lan nhìn thấy chúng tôi và rồi mở đôi tay nhân đạo cứu vớt.

Bước chân lên Singapor, trại ty nạn vốn có tiếng là thiên đàng, nhưng giữa cái thiên đàng đó, vẫn ẩn náu những bóng hình nghèo nàn tả tơi. Nơi đây tôi đã học được và thấy được tận mắt, thế nào là chia sẻ miếng cơm manh áo. Một chia sẻ trong tình người, không giống như những ngày ở quê nhà, tôi chỉ cho đi khi mình có quá nhiều và dư thừa. Bên cạnh đó tôi cũng nhìn ra được thế nào là cấu xé, tranh giành, tham lam của không biết bao người đang sống chung quanh mình. Cuộc sống trong trại tỵ nạn đã khơi dậy trong lòng tôi một ước mơ: ước mơ được đến với từng người, để chia sẻ, để cảm thông từng đắng cay, chua xót nhọc nhằn với họ. Ba tháng sau tôi rời trại, tôi đặt chân lên mảnh đất tự do với nhiều ước mơ và hứa hẹn. Hòa Lan xứ sở của bơ sữa, hiền hòa, nhưng không kém phần cấp tiến về mặt giáo hội. Khó khăn lớn nhất của tôi lúc này là ngôn ngữ. Trước mắt là cả một thách đố, nếu tiếp tục ôm ấp giấc mơ làm ma-soeur truyền giáo, tôi ngại khó khăn, tôi sợ chờ đợi. Giưã cảnh thiếu thốn tình đồng hương, bốn bề là Hòa Lan tôi khao khát một mảnh tình quê hương, tôi mơ ước sáng tối được đọc kinh bằng tiếng Việt, và rồi để trốn chạy, tôi ngược xuôi kiếm tìm, từ Bỉ qua đến Đức cuối cùng chỉ là thất bại. Tôi tự nghĩ “Mình không có ơn gọi!” Trở về Hòa Lan buồn thật nhiều, nhưng còn biết làm gì hơn là bắt đầu lại từ đầu. Tôi tìm trường và nghề nghiệp xong xin đi học trở lại, 2 năm học ngắn ngủi qua mau nhưng đủ để tôi cảm nghiệm rằng, vẫn có một hình bóng quyến rũ tôi, một bàn tay mời gọi tôi bước tới. Có biết bao sinh hoạt, hội họp, rong chơi cuối tuần nhưng tất cả đã chẳng lấp đầy khoảng trống của tâm hồn tôi, tôi vẫn thấy thiếu vắng làm sao ấy. Quen với cha Gerard SVD, (người Hòa Lan) đã lâu. Lần nào ghé nhà, ngài cũng bảo xuống thăm dòng Nữ Tỳ Thánh Linh Truyền Giáo cho biết, tôi chỉ cười và không nói, bởi nghĩ rằng “Ở đây ít người đi tu, vào dòng rồi mang tiếng là truyền giáo nhưng không biết họ có gởi mình đi không, hơn nữa tối sớm chỉ có bánh mì và khoai tây. Tôi tự nhủ: liệu tôi có theo đuổi cuộc sống tu trì đến cùng hay là lại bỏ giữa chừng thôi!” Lần nào tôi cũng ngỏ ý cám ơn cha Gerard nhưng cha chối từ khéo. Hè 1990 tôi đi Canada thăm gia đình, trước khi về ít ngày, nơi chị và các em tôi ở, có tổ chức một thánh lễ ngoài trời cho mọi dân tộc trong vùng. Tò mò, tôi cũng đi cho biết, đứng giữa khung cảnh bốn bề là một nhà, cùng nhau dâng lên cha lời nguyện chung tôi tự nhủ “Chúa ơi! con sẽ phải làm gì?” Không có câu trả lời và tôi quên mau, bởi chẳng cố ý đặt nặng vào vấn đề. Những ngày thăm gia đình qua mau, trở về lại Hòa Lan tôi tiếp tục đi học, nhưng chuyện chưa vào đâu cả, bỗng nhiên có một ngày tôi cầm điện thoại, điện thăm cha Gerard và rồi xin ngài làm hẹn với các sơ dòng Nữ Tỳ Thánh Linh cho tôi xuống thăm, nửa tiếng sau ngài gọi lại cho tôi và nói “không có vấn đề gì cả” cứ xuống và ngài sẽ đón tôi ở nhà ga.

Thật sự cho cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn không hiểu được tại sao hôm đó tôi cầm điện thoại để làm hẹn xuống thăm dòng. Tôi chỉ có thể khẳng định được rằng, đây là câu trả lời bỏ dở của cái hôm tôi còn ở Canada, lúc đứng giữa buổi nguyện cầu, miên man tôi đã hỏi chúa “Con sẽ phải làm gì? Chúa ơi!” Ngày 14 tháng 9 năm 1991 tôi nhập dòng, lúc đầu thật sự tôi cũng lo sợ, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục khác thường, liệu rồi có kiên nhẫn đủ không, nhưng tình chúa luôn đủ cho con người và cho riêng đời tôi, sau một năm làm đệ tử ở Aachen (bên Đức), 14-08-1992 tôi lãnh nhận áo dòng xong vào nhà tập 2 năm ở Wollerdorf (Áo Quốc), 15-08-1994 trở về nhà chính ở Hòa Lan tôi tuyên khấn lần đầu.

Giấc mơ của bao năm bây giờ đã là thành hiện thực. Nhìn lại tôi chỉ có thể nói được rằng, Thiên Chúa thật sự ban tặng cho đời tôi những gì tôi mơ ước. Ngài muốn tôi trở thành ma-soeur truyền giáo cả ngàn lần hơn lòng tôi mong ước. Với thánh ý Ngài và lòng mong mỏi của tôi đã giúp tôi đạt được ước nguyện này.