Seminarian
| Trang Trước | Mục Lục | Trang Kế Tiếp |


Chuyện Đi Tu

Giọt Sương Nhỏ

Cách đây tám năm tôi có một cái nhìn thật khác về đời tu! Tôi cứ cho rằng nếu Chúa đã mời gọi tôi vào dòng thì ngài sẽ làm tất cả mọi sự, ngài sẽ giải quyết mọi vấn đề, còn tôi thì cứ yên lặng cầu nguyện và phó thác dâng tất cả trong tay ngài. Rồi tôi nghĩ một tu sĩ thì phải ngồi thế này, đứng thế kia, ăn nói thế nọ…Tất cả phải ra vẻ…”tu sĩ thánh thiện, mới xứng đáng với ơn gọi! Nói chung, lúc nào tôi cũng muốn một sự toàn thiện theo cách nhìn riêng của tôi. Sau bao sóng gió, bão táp của cuộc đời, và bao năm tiến bước chậm trong tu đức con mắt tôi mới bắt đầu bừng tỉnh…Có hai điều quan trọng trong cuộc sống tu hành mà tôi vẫn sống và quan niệm thật sai: điều thứ nhất là tôi luôn cho rằng Chúa có một trách nhiệm thật lớn trong cuộc đời của tôi, ngài sẽ biến đổi mọi sự, thành công hay thất bại đều do chúa mà ra cả; điều thứ hai là tôi đã chập chững bước vào cuộc sống tu hành với một bộ mặt nạ giả dối. Tôi đã mất con người thật của mình và sống đầy sự sợ hãi, đè nén…!

Nơi đây Chúa sẽ chẳng bao giờ làm hết mọi sự thay cho người ngài thương cả! Ngài quyết không dành sự dễ dãi cho những ai dấn thân trên bước đường tận hiến theo Ngài vì đường về thiên quốc Ngài còn rất xa…Tôi hình dung Chúa như một người cha, và tôi là một đứa bé đang tập đi. Khi thấy con mình đã chập chững được vài bước, người cha sẽ từ từ buông tay ra để nó có thể tự đi một mình. Có đứa bé nào khi tập đi mà không bị té? Có đứa bé nào biết đi và đi vững nếu người cha không để nó tự đi một mình sau những ngày luyện tập? Hành trình cuộc sống của tôi từ nay cũng phải thế: tôi phải té ngã, phải đau, phải trầy trợt, phải đổ máu thì mới mong có một cuộc lên đường đầy tự do, thênh thang và hạnh phúc. Còn Chúa, Ngài luôn đồng hành, không phải để quan sát hay kiểm soát, cũng chẳng phải để làm hết mọi chuyện, nhưng để tham dự, thông phần, nâng đỡ, và nếu cần, Ngài sẽ làm chút phép lạ để khích lệ tinh thần tôi…

Biết rõ vậy mà nhiều lúc tôi vẫn thấy bất an! Trong đời tu lắm khi tôi ngờ vực tình yêu Chúa. Tôi nghĩ mình được quẳng vào đời rồi loay quay như một chiếc lá lìa cành, gió thổi đi đâu thì thổi…Rồi tôi trách Chúa, trách nhất là những lần tôi cố hết sức để làm một điều gì đó nhưng chẳng thành công nổi! Tôi ồn ào van xin nhưng Ngài vẫn yên lặng; tôi khóc, tôi vùng vẫy để rồi cuối cùng tôi thấy chỉ có một mình trơ trọi, tàn rã với một thất vọng nặng nề. Có lúc tôi trách Chúa đã làm tôi xa quê Việt thân thương, trách Chúa bắt tôi nói một ngôn ngữ khác, sống một phong tục khác và phải ăn những món ăn vô gia vị! Có lúc thèm một bát cơm nguội và một trái cà mắm mà cũng chả có, huống chi những tập quán và truyền thống đầy dân tộc tính của người việt. Chúng đã ẩn sâu trong tim óc và huyết quản, vậy mà theo Ngài tôi đã mất tất cả, mất luôn chính tôi!

Sáng nay thật lặng lẽ, tôi bước vào nhà cầu nguyện. Ngồi im trước nhan thánh Ngài, những thao thức, buồn tủi đó lại trở về…Tôi lắc đầu chẳng hiểu nổi thánh ý Ngài! Tôi cứ thấy tim mình nhưng nhức sao đâu! Chẳng lẽ Chúa không bao giờ có mặt trong hành trình đời tôi? Chẳng lẽ tôi bỏ mọi sự để theo Ngài rồi Ngài chẳng đoái hoài gì tới tôi? Như vậy đâu có công bằng! Rồi tôi thấy bất an và ngờ vực tình Ngài quá đỗi! Đã vậy bạn bè tôi bỏ ra về sau sáu bảy năm sống với Chúa và phục vụ Ngài trong từng thân phận! Chẳng lẽ cuộc sống này cũng chẳng thuộc về tôi sao? Rồi tôi lại lặng nhìn thập tự…Tôi bỗng thấy thân xác Chúa cũng tàn rã, rời ra từng mảnh nhỏ, cũng đau khổ quá! Nỗi đau nào thật sầu kín cứ gặm nát tâm linh tôi…Rồi trong im lặng Chúa đến! Ngài đến và gỡ hai tay trên cơn bão tâm hồn tôi và làm cho mọi sự lắng xuống…Tôi chẳng hiểu Chúa đến lúc nào và giải thích ra sao nhưng bỗng dưng tôi thấy mình đã lầm, lầm to! Bao năm nay, Chúa vẫn có mặt trong từng biến cố đời tôi, Ngài có đó trong từng giọt nước mắt, trong từng nụ cười, niềm vui. Cách yêu của Ngài thật lạ: để dạy tôi biết giá trị của ánh sáng, Ngài đã đặt tôi vào bóng đêm; để dạy tôi biết yêu quí Quê Hương, Ngài đã tách tôi ra khỏi Việt Nam thân thương; để cho tôi thấy tiếng Việt giàu và phong phú, Ngài muốn tôi nói tiếng ngoại quốc; để dạy tôi thấy vẻ đẹp vô thường của Thiên Chúa, của nội tâm. Ngài cho tôi sống với những con người của tính toán, của kỹ thuật, máy móc; và để dạy tôi sống khiêm tốn, luôn thấy cần có Chúa. Ngài đã làm cho tôi “rớt lộn cổ xuống ao!” Tôi bỗng giật mình! Trời ơi, những năm đó tôi đã sống quá mãnh liệt, và nhiệt tình cho quê hương, cho gia đình, cho bạn bè, và cho chính tôi! Ngày nào mà tôi lại không thương và nghĩ về chúng? Những năm đó, Ngài đã dạy cho tôi ý nghĩa của hai tiếng “Tình yêu” cao cả. Những năm đó có thể là nước mắt và thập tự nhưng sao lại đầy Thiên Chúa thế? Ngài có xa tôi bao giờ đâu! Ngài vẫn im lặng để nâng đỡ và cùng với tôi chăm sóc cho mảnh vườn tâm linh đấy chứ! Cách yêu và cách sống của Ngài quá kỳ lạ! Ngài cứ yêu, cứ kề cận bên tôi mặc cho tôi có nhận thấy hay không cũng được!

Chúa xưa lúc còn ở với môn đệ, Ngài đã sống rất con người và chẳng bao giờ sợ chia sẻ những nhân tính yếu đuối đó với bạn bè Ngài. Ngài có sao sống vậy, chẳng giấu diếm, sợ sệt:

“Tim Ta đau khổ đến chết được. Hãy ở lại với Ta và cầu nguyện.” (Mark 14:34)

Rồi trong cuộc đàm thoại với thánh Phêrô, Chúa cứ muốn nghe Phêrô nói: “Lạy Chúa, con yêu Ngài!” Ngài muốn nghe điều đó tới ba lần lận, và Phêrô cứ phải lập đi lập lại mãi!

Ngài chẳng bao giờ đến với các môn đệ cách co cụm, đè nén, giấu diếm. Sức mạnh Ngài tỏ rõ nhất khi Ngài chia sẻ những yếu đuối, đau buồn đó với các môn đệ. Ngài đã chia sẻ chính “mình và máu” Ngài trong bữa ăn cuối với các môn đệ trước khi Ngài tự nộp mình cho quân dữ! (Mark 14:22-25) Ngài đã từng nổi giận và xua đuổi tất cả những kẻ buôn bán trong đền thờ Thiên Chúa (Mark 12:15-17). Ngài cũng đã từng nướng cá, ăn uống với các bạn bè Ngài sau khi Ngài sống lại từ cõi chết (John 21:9-10). Chính vì Ngài đã sống quá con người mà Ngài đã được Chúa Cha cho nhập thể và nhân tính Ngài trở nên mạnh mẽ vô thường.

Theo tôi, một trong những yếu tố làm xa ơn gọi (bất cứ ơn gọi nào) chính là lúc chúng ta cố tình sống xa bản tính con người, xa chính chúng ta! Chúng ta cứ muốn cao bằng, hoặc hơn Thiên Chúa! Chúng ta cứ lầm tưởng rằng ta phải đến với Chúa và đồng loại như một vị thánh, như một kẻ đã đắc đạo, toàn thiện, tốt lành. Tại ta lúc nào cũng muốn nghe những chuyện tốt lành, vui vẻ, và môi thì lúc nào cũng bóng bảy những ngôn từ thánh thiện nhân đức. Chúng ta chẳng dám hé môi thú nhận: “Tôi cô đơn…”, “Tôi buồn…”, “Tôi nhớ…”, “Tôi là con người…” Vì không sống thật với mình, vì không muốn chia sẻ những nhân tính yếu đuối mà chúng ta đã vô tình xây một bức tường vĩ đại để ngăn cản những kẻ đang sống rất con người. Thế rồi chẳng bao lâu ta mất chính con người mình và lần bước vào đời với một bộ mặt thật khác. Lâu ngày, những điều tưởng là tốt lành thánh thiện đó đã tạo nên một kẽ hở thật lớn cho ma quỉ cư ngụ và lúc đó ta đã biến thành một khí cụ đắc lực của chúng mà vẫn không hay biết! Chúa chúng ta, với bản tính Thiên Chúa khi nhập thể, đã sống rất con người; còn chúng ta thì sao, hỡi loài tạo vật nhỏ bé?

Thánh Ignatinus hay nói về sức mạnh Thiên Chúa và sức mạnh ma quỉ. Theo Thánh Nhân sức mạnh Thiên Chúa chính là ở chỗ nghèo khó, nhịn nhục và khiêm tốn. Sức mạnh của ma quỉ thì ngược lại là say mê vật chất, địa vị, kiêu căng và tự cao. Thoạt nhiên tôi chẳng hiểu vì sao nghèo khó lại có thể là sức mạnh được? Rồi cũng trong trạng thái im lặng, lắng nghe, Chúa đã nói…Ngài nói với tôi qua những chia sẻ, thao thức của bạn bè, của những kẻ đồng chí hướng, và nhất là qua tờ Đặc San Ngôi Lời 96. Càng đọc tôi càng thấy sức mạnh của nghèo khó, bình dị và khiêm tốn hơn. Chẳng hạn trong bài chia sẻ “Nỗi Ưu Tư” của Bờm Tui, Bờm đã cảm thấy một sức mạnh tình yêu nào đó cứ dâng trào trong lòng khi Bờm chứng kiến cảnh nghèo khó của ba mẹ con bên đường, và Bờm đã quyết định: “Phải làm lại từ đầu”, “Phải canh tân”, “Phải thay đổi”. Cũng vậy, trong “Thoáng Suy Tư” của Peter Nguyễn Công, hồn ta đã tràn đầy sức mạnh tình yêu khi “thấy một thiếu phụ ngồi run rẩy sau một bụi cây giữa trời đông lạnh lẽo.” Hay trong “Niềm Tin Và Sự Quan Phòng” của Hồng Quang, Hoàng cứ ao ước phục vụ “những người nghèo khổ”. Hoàng đã giúp các em thiếu nhi tị nạn, và “tất cả những điều đó đã mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của Hoàng.” Cũng thế, khi bạn bè tôi có dịp chia sẻ về ơn gọi, ai cũng nói: “Tôi đi tu thấy cảnh nghèo của…” hoặc, “Tôi muốn phục vụ vì thấy và chứng kiến cảnh khó khăn nghèo nàn của…” Chưa bao giờ tôi nghe nói đi tu để được chức phận như bà kia giàu sang hay ông nọ có quyền thế, ăn trên ngồi trước. Điều đó chứng tỏ tinh thần nghèo khó, nhịn nhục và khiêm tốn là sức mạnh Tình Yêu, hay nói cách khác, đó chính là sức mạnh Thiên Chúa vậy! Viết tới đây tôi nghĩ đến Thánh Phanxicô ! của thành Assisi. Thuở ấy không có sức mạnh nào có thể đanh tan được ước muốn sống thật khổ, thật nghèo của ông, và ông đã tràn đầy sức mạnh tình yêu!

Ma quỉ thì khác, chúng cứ lợi dụng lúc người ta sống khó nghèo, trong sạch, nhịn nhục, là tấn công tới tấp. Hồi tưởng lại chuyện Chúa ăn chay trong sa mạc: Ma quỉ chỉ xuất hiện khi Ngài đói mà thôi! Và khi đói thì ai lại không ăn? Nhưng bí quyết của Ngài là: tỉnh thức và cầu nguyện! Chính vì thế thức ăn của Ngài là “làm theo ý Cha.”

Trong cuộc sống tu hành cũng vậy, ma quỉ chỉ đến khi tôi rời xa sức mạnh của Thiên Chúa, (nghèo khó, nhịn nhục, và khiêm tốn) khi tôi quên xét mình mỗi ngày, khi tôi mê ngủ quên cầu nguyện.

Theo Thánh Ignatius thì trong cuộc sống tu trì ai cũng có lúc trải qua hai giai đoạn: giai đoạn gần Chúa, yêu Chúa (consolation), và giai đoạn thấy xa Chúa, nằm hoàn toàn trong bóng tối (desolation). Các Thánh ai cũng đã sống qua những giai đoạn này, nhất lúc thấy lạc vào bóng tối mà chẳng có lối thoát. Những lúc như vậy nếu họ không xét mình thường xuyên, không liên kết sâu sa với Chúa thì sức mạnh ma quỉ sẽ nằm trên sức mạnh Thiên Chúa và dần dần họ sẽ xa Chúa mà không hay biết. Tôi cũng đã sống qua những giai đoạn đó, nhưng Chúa đã căn dặn kỹ: Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ.” Thật vậy, trong bóng tối chúng ta dễ lạc xa Chúa biết bao!

Trong thực tế, đã bao lần tôi bị lung lay từ sự cực này sang sự cực khác mỗi khi có người rời dòng, nhất là những người tôi thương. Có một tiếng mời gọi nào đó trong tôi…tiếng mời gọi tôi xa sức mạnh Thiên Chúa…Rồi tôi cứ tự hỏi về đời sống ơn gọi của mình và thấy mình từ từ rơi vào một vùng bóng tối rất sâu…Nhưng rồi cũng như mọi lần, Chúa lại kiên nhẫn giải thích…Ngài nhắc tôi nhớ lại lần ngài gọi mời Phêrô theo Ngài sau khi Ngài sống lại. Với một cái nhìn đầy yêu thương Chúa đã nói: “Phêrô! Hãy theo ta!” Nhưng Phêrô thì cứ lo lắng, băn khoăn, thắc mắc, dù trong lòng rất ao ước theo Chúa: “Còn John thì sao?” Chúa đã trách nhẹ nhưng rõ ràng: “John có đường của John. Bổn phận ngươi là hãy theo Ta, đừng quá thắc mắc về kẻ khác.” (John 21:21-23)

Phận tôi, tôi thấy mình phải theo Ngài như vậy. Cách Ngài gọi tôi rất khác với cách Ngài gọi các bạn bè tôi, rất riêng tư và rất yêu thương. Tôi phải theo Ngài một cách trung thành, không đắn đo, không lo lắng hay bị chi phối bởi kẻ khác. Bổn phận của tôi là lên đường với Ngài không chậm bước!

Rời nhà nguyện, tôi lặng lẽ dạo bộ ra vườn. Cỏ sáng nay sao thắm xanh thế! Và mặt trời cứ lặng lẽ lan tỏa những tia nắng ban mai thật ấm áp trên gò má, trên môi tôi! Một niềm bình an thật khó tả cứ ngấm dần vào da thịt, tế bào, và tôi biết sự bình an đó chỉ có Ngài mới có thể ban phát được. Vươn vai hít thở không khí trong lành, tôi bỗng thấy sảng khoái và đầy sức sống! Đang say sưa trong sự bình an mà Ngài ban phát, tôi bỗng thấy như lặng đi trước vẻ đẹp kỳ lạ của những giọt sương sớm! Tôi không thể tin vào mắt mình được nữa! Những hạt sương mai bỗng biến thành những hạt kim cương sáng chói! Tia nắng mặt trời đã biến thảm cỏ và những giọt sương nhỏ đó thành một cánh đồng đầy kim cương lấp lánh!

Thỉnh thoảng một cơn gió thật nhẹ bay qua và những hạt kim cương bỗng trở mình run rẩy trong nắng sớm. Tôi đứng lặng trước vẻ đẹp đó! Chưa bao giờ tôi thấy những giọt sương mai lại đẹp và đầy sức sống thế! Chúng tràn đầy ánh sáng và vẻ đẹp của Đấng Tạo Hóa! À, Chúa đâu có chết! Ngài vẫn sống và làm việc cực nhọc cho từng tạo vật đó chứ! Hãy thức dậy đi! Hãy nhìn những tia nắng ấm! Hãy lắng nghe những nhịp tim đang đập trong lồng ngực của ngươi! Hãy cảm nghiệm dòng máu nóng đang luân chuyển khắp cơ thể…Chúa đâu có xa ngươi bao giờ! Chúa đâu có rời ngươi phút giây nào! Trong thoáng chốc, tôi thấy mình như một hạt sương nhỏ, chỉ là nước thôi, không màu sắc, không mùi thơm, và rất vô vị, vậy mà khi ánh sáng tình yêu Ngài chạm vào, tôi bỗng biến thành một hạt kim cương bảy màu rất đẹp, rất quí giá! Và tôi ao ước được sống mãi trong ánh sáng, sức mạnh tình yêu Ngài…