Muc Luc Gia Trang CTTDVN
Vietnamese Martyr
 
Lich Su
 
* Đôi Dòng Lịch Sử Của Giáo Hội Việt Nam
*Thời Kÿ Bách Hại Công Giáo
*Những Sắc Chỉ Cấm Đạo
*Những Lý Do Đạo Chúa Bị Bách Hại
*Những Hình Khổ Người Công Giáo Phải Chịu
 
Van Dong 
*Thỉnh Nguyện Thơ Của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
*Thỉnh Nguyện Thơ Của Hội Đồng Giám Mục Tây Ban Nha
*Thỉnh Nguyện Thơ Của Hội Đồng Giám Mục Pháp
*Thỉnh Nguyện Thơ Của Hội Đồng Giám Mục Phi Luật Tân
*Thỉnh Nguyện Thơ Của Dòng Đa Minh (Dòng Thuyết Giáo)
*Thỉnh Nguyện Thơ Của Hội Thừa Sai Pháp
 
Ton Vinh
 
*Thể Thức Để Được Tôn Vinh Chân Phước Tử Đạo
*Tiến Trình Việc Tôn Phong Chân Phước Tử Đạo
*Các Lần Tôn Phong Chân Phước Tử Đạo Việt Nam
*Các Văn Kiện Lịch Sử

E-mail:
cttdvn@nolaviet.com

Con Duong Vinh Quang
Thỉnh Nguyện Thơ Của Dòng Anh Em Thuyết Giáo

Nhà Mẹ Số 74/85/1171
Rôma ngày 28 tháng 12 năm 1985

Kính đệ Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II,
Điện Vatican

Kính thưa Đức Thánh Cha,

Ngày 24 tháng 11 năm nay ghi nhớ 25 năm thàn lập Hàng Giáo Phẩm tại Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm này Đức Thánh Cha gửi tới Hàng Giám Mục tại quốc gia nói trên một sứ điệp, trong đó sau khi trưng lại "truyền thống của Chư Huynh trải qua ba trăn năm đã hơn một lần được nhuộm máu các vị Tử Đạo". Đức Thánh Cha tiếp theo: "Nếu đấy là sứ mệnh hạt giống gieo vào lòng lịch sử, chắc chắn mùa nở hoa sẽ dồi dào cho tương lai Giáo Hội".

Hòa âm với lời nguyện chúc trên đây của Đức Thánh Cha, Dòng Anh Em Thuyết giáo rất hân hoan vì được góp phần hiện diện truyền giáo lâu dài, chớm nở bằng hạt giống gieo trên đất Việt Nam vào nửa phần thế kỷ XVI do các Linh mục truyền giáo Bồ Đào Nha và năm 1588 được thấm máu hai vị Tử Đạo tại châu thành Qui Nhơn. Từ năm 1676 sự nghiệp truyền Đạo lại tiếp tục thường xuyên cho các Tu Sĩ Dòng Đa Minh xuất xứ từ Phi Luật Tân . Năm 1698 cha Raimondo Lezali được bổ nhiệm Giám mục Giáo Phận Đông Bắc Việt. Năm 1848 Giáo Phận Đông Bắc Việt này được chia ra làm hai: Đông Bắc Việt và Trung Bắc Việt. Và năm 1882 lại thêm Giáo Phận Thượng Bắc Việt. Mấy Giáo phận vừa kể đây được người Tây Ban Nha và Pháp quản nhiệm, mãi cho tới 1960 các lãnh thổ truyền giáo này được nâng lên hàng Giáo Phận thực thụ: Bắc Ninh, Bùi Chu, Hải Phòng, Lạng Sơn Cao Bằng và Thái Bình.

Trong thế kỷ XX còn thành lập 3 Nữ Tu viện cho Chị Em Đa Minh, và năm 1967 khánh thành Tỉnh Dòng "Nữ Vương các Tử Đạo" gồm 120 thành viên chia ra trong 5 cộng đoàn riêng biệt. Nguyên trong thời gian 1738-1882 đã cp1 137 thanh niên người Bắc xin nhập Dòng Đa Minh.

Quả thật Việt Nam đã trở thành mùa lúa có nhiều thợ gặt, có nhiếu bông nặng hặt, lớn lên trong bầu không khí những lời Chúa hứa trong Tin Mừng, tức là hứa phúc trường sinh như phần thưởng trên trời, và hứa sẽ được gấp trăm gấp nghìn qua các cuộc bách hại như phần thưởng trần gian (Marc. 10, 29-30). Trong nhiều cuộc bách hại có những lần hết sức gắt gao vào thế kỷ XVIII đời vua Cảnh Hưng, và trong thế kỷ XIX đời hai vua Minh Mạng và Tự Đức (1833-1862). Từng chục vị chủ chăn phải hy sinh tính mạng, từng ngàn Giáo dân đã ngã gục. Một thí dụ: năm 1917 Tòa Thánh đã nhận một đơn thỉnh nguyện phong Chân Phước cho 1315 Tôi Tớ Chúa đã bỏ mình vào khoảng những năm 1856 và 1862 trong các xứ Đạo thuộc Dòng Đa Minh quản nhiệm trong hai Giáopohận Đông Bắc Việt và Trung Bắc Việt.

Các vị Giáo Hoàng Lêô XIII, Piô X và Piô XII đã tôn phong 117 vị Chân Phước đại diện cho nhiều thời kÿ bách hại khác nhau và được phân chia làm 4 nhóm: 64 vị Tử Đạo năm 1900; 8 vị năm 1906; 20 vị năm 1909 và 25 vị năm 1951 chia theo hai danh từ địa dư thời đó Tokin và Annam cùng được phong chung với 27 vị Tử Đạo người Trung Hoa. Trong tổng số các Tử Đạo tại Việt Nam có 59 vị thuộc Dòng Đa Minh hay là thuộc Giáo phận do Dòng Đa Minh quản nhiệm, và 58 vị thuộc Hội Thừa Sai Paris hay là trong Giáo Phận do Hội Thừa Sai Paris phụ trách.

Gia đình Thánh Đa Minh đã cống hiến 6 Giám mục, 5 Linh mục người Tây Ban Nha, 11 Linh mục Việt Nam, 13 vị Dòng Đa Minh trong đó 3 Linh Mục. Theo sau còn 25 vừa là Linh mục vừa Giáo dân, như các Giám mục Inhaxiô Delgado, Đa Minh Henares Girolamô Hermosilla; có những vị còn trẻ trung, đầy nhiệt huyết như Giám mục Valentinô Berrio Ochoa và Phêrô Amato. Có nhiều vị trưởng gia đình hay là Thầy giảng thuốc giai cấp thượng lưu, bình dân hay quân đội như Đa Minh Án Khảm, Tôma Toản, Micae Mỹ, Đa Minh Đạt. Có những vị sống chung trong cộng đoàn với các Linh mục Thừa Sai, trong tổ chức gọi là "Nhà Đức Chúa Trời".

Nếp sống anh hùng, sự chịu đựng hình khổ với tinh thần can đảm là những sự kiện hiển nhiên chính những vị Giáo Hoàng đã lên tiếng ca ngợi sau khi hay tin các Ngài mệnh một. Đức Piô VI, trong buổi họp Cơ Mật Viện ngày 13-11-1775 đã đề cao hai Linh Mục Đa Minh Giacintô Castaneda và Vinh Sơn Liêm (Tử Đạo năm 1773). Đức Gregoriô XVI, trong cuộc họp Cơ Mật Viện khác (27-4-1840) đã tán đương Giám Mục Inhaxiô Delgado và các Bạn Tử Đạo năm 1838, và Ngài cầu chúc cho các vị chóng được vinh dự tôn phong trên bàn thờ.

Thực ra vinh dự được tôn phong Chân Phước càng làm vững mạnh và tăng cường thanh danh các vị tại Việt Nam, Tây Ban Nha và Pháp. Hai vị Giám Mục Đa Minh Melchior Gracia Sampedro (+1858) và Valentino Berrio Ochoa được tôn kính như hai vị Tử Đạo tiên khởi tại hai miền Asturia và Biscaglia. Dòng Đa Minh đã mừng 100 năm ngày Chân Phước Girolamô Hermosilla và các Bạn Tử Đạo (Thư luân lưu Cha Tổng Quyền M. Browne ngày 16-10-1961); sau đó toàn Dòng đã uỷ thác Cha Bề Trên Tổng Quyền Vinh Sơn De Couesnongle đê đơn xin phong Hiển Thánh cho các vị Tử Đạo tại Việt Nam (Biên bản Hội Nghị toàn Dòng tại Quezon City, năm 1977, số 59).

Đồng thời Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Tổng Giám mục Hà nội, đã liên lạc với Dòng Đa Minh từ 1979 để cổ động việc phong Thánh này và xin: "Toàn thể Dòng tham gia vào đợt sóng cầu nguyện từ nay càng thêm thành khẩn đi từ Việt Nam đau khổ lên mãi tận trời cao xa để xin cho những vị Tổ tiên anh dũng chúng tôi được trông thấy ngày vinh hiển bề ngoài, vì đó là như một sự nối tiếp công cuộc truyền Đạo đã được khai nguyên tốt đẹp trong những thế kỷ trườc đây, để mở rộng bờ cõi Giáo Hội" (Thư ĐHY gửi Cha Vinh Sơn De Couesnongle ngày 23-7-1979).

Trong thủ tục đã được chấp nhận để phong Chân Phước, các vị Giáo Hoàng tiên nhiệm công nhận rằng: "Về sự kiện Tử Đạo đã có chứng nghiệm, có đầy đủ lý do chính đáng và có cả phép lạ kèm theo" cho 90 vị. Còn lại 27 vị (2 vị trong đợt I (1900) và 25 vị đợt IV (1951), vì đã có bằng chứng hiển nhiên các Ngài đã chết vì tín ngưỡng, do đó các Đức Giáo Hoàng đã tha không đòi hỏi việc nghiên cứu phép lạ.

Đối với 64 vị Tôi Tớ Chúa trong đợt I (1900): trừ hai vị như vừa kể trên, còn vị khác thì trong hồ sơ còn ghi rõ: ngoài một vài điềm lạ, đã có cả vụ án điều tra (theo Giáo Luật) về hai phép lạ thật sự chữa lành bệnh: một xảy ra ở Paris năm 1853, và một ở Reims năm 1854. Còn các vị đợt II (1906) tất cả thuộc Dòng Đa Minh cũng thế, trong hồ sơ không kể một vào dấu lạ còn toàn vẹn tờ biên bản ghi một phép lạ thực sự tại Vic (Tây Ban Nha) năm 1888 nhờ sự bảo trợ của Chân Phước Phêrô Amato. Riêng Chân Phước Valentinô Berio Ochoa cùng một lớp có nhiều phép lạ, nhất là sau ngày được phong Chân Phước, chính vào năm 1927 kỷ niệm bách chu niên ngày sinh nhật của Ngài. Còn một số phép lạ khác vào thời đại gần đây, nhưng thường được kể là phép lạ chung cả nhóm 7 đồng Bạn Tử Đạo. Một vài ơn đặc biệt cũng đã được ghi là của Chân Phước Melchior Garcia Sampedro thuộc đợt IV (1951).

Giám mục thành Cordova, tức thánh Eulogiô Tử Đạo, trong cuốn "Biện hộ cho các vị Tử Đạo thành Codova" (Apologeticum Martyrum Cordulensium) thế kỷ IX đã viết: "Phải xác tín rằng không phải vì những phép lạ, vì những việc kÿ diệu, nhưng chính là vì Đức Tin vẹn toàn, sự bền vững tuyên xưng mới là điểm xuất chúng nơi các vị Tử Đạo. Sự kiện các chứng nhân của Chúa có nhiều phép lạ lừng danh, hay chỉ chiến đấu anh dũng mà không làm phép lạ nào, điều đó không quan trọng".

Các vị Tử Đạo Việt Nam, phần đa số cũng lừng danh vì những phép lạ, nhưng tất cả đều xuất chúng, vì các Ngài nắm vững Đức Tin vẹn toàn và kiên trì tuyên xưng, do đó trong thời gian hai thế kỷ truyền Đạo tại đây các Ngài được ghi nhận với quí tính cao danh, như là những vị Tử Đạo trong đế quốc La Mã hồi xưa trong ba thế kỷ mới khai nguyên Đạo Thiên Chúa. Trong thời đại chúng ta, các Ngài là những tấm gương chiếu sáng cho cả một dân tộc đầy tín ngưỡng đang làm chứng nhân cho Chúa bằng cách chịu đựng một cuộc tử nạn thầm lặng triền miên.

Do đó việc tôn phong Hiển Thánh cho các Ngài cũng như việc phong Thánh cho các vị Tử Đạo Đại Hàn năm 1984 có một ý nghĩa cao cả vừa lịch sử, vừa hộ giáo, vừa truyền Đạo trong hiện tại và trong tương lai Giáo Hội Việt Nam. Giáo hội này còn trẻ trung, nếu xét về phương diện mới thành lập hàng Giáo phẩm, nhừng là Giáo Hội đã bén rễ sau trong tín ngưỡng, trong dòng máu những con cái của chính mình đang sống hôm nay và còn sinh sản ngày mai.

Kính thưa Đức Thánh Cha,

Chính vì thế mà hôm nay, với tư cách Tổng Quyền Dòng Anh Em Thuyết Giáo, nhân danh toàn Dòng, nhất là nhân danh gia đình Đa Minh Việt Nam, nhân danh tỉnh dòng "Rất Thánh Mân Côi" tại Viễn Đông, đồng tâm hợp ý với các Giám Mục và cộng đoàn Dân Chúa tại Việt Nam, cũng như hợp ý với Hội Thừa Sai Paris, đệ lên Đức Thánh Cha lời thỉnh nguyện tha thiết, xin Ngài dùng quyền tối cao đội hào quang Hiển Thánh cho 117 vị Chân Phước Tử Đạo của Giáo Hội này, trong đó 60 vị là đại diện cho Dòng Đa Minh và Giáo Phận Đa Minh.

Rôma ngày 28 tháng 12 năm 1985
Lễ Các Thánh Anh Hài Tử Đạo

Ký tên: Hiền tử Linh Mục Damian Byrne, OP
Tổng Quyền Dòng Đa Minh


Gia Trang CTTDVNGia Trang CTTDVN