Muc Luc Gia Trang CTTDVN

Vietnamese Martyr

 E-mail:

  ldtran@lambich.net 

Nhân dịp kỷ niệm 10 năm Phong Thánh, chúng tôi xin gởi đến qúi vị Gia Trang Các Thánh Tử Đạo Việt Nam (CTTĐVN) trong VietCatholic Online Network. Gia trang được chia làm 3 phần:
    CTTDVN
  1. Con Đường Vinh Quang: ghi chép lại một ít lịch sử cấm Đạo, các Thỉnhh Nguyện Thơ, Các Văn Kiện Lịch Sử và những biến cố dẫn đến ngày Phong Thánh.
  2. Ngày Phong Hiển Thánh: ghi lại các bài giảng, bài Thỉnh Cầu của Cơ Mật Viện, Hình Ảnh Ngày Phong Thánh, Video Phong Thánh và Danh Sách các Thánh Việt Nam.
  3. Đường Sống Các Thánh: ghi lại những lối sống các Thánh, Đường Tu Đức Việt Nam, Các bài văn, thơ, ca, kịch về các Thánh.
Để Gia Trang CTTĐVN được phong phú hơn, chúng tôi kêu gọi quí vị đóng góp các câu chuyện, các bài suy gẫm, những Gương Các Thánh, các bài thơ, văn, ca, nhạc về các Thánh. Xin gởi bài qua e-mail ldtran@lambich.net. Chúng tôi có thể đọc được tất cảù các dạng đánh máy Việt Nam, tuy nhiên bài sẽ được chuyển qua dạng VNI trước khi lên Net.

Sau đây là bài Con Tàu 117 của Lm Dũng Lạc Trần Cao Tường.

Thân Ái

KỶ NIỆM 10 NĂM PHONG THÁNH
TÀU 117 ĐI SANG ĐẤT MỚI

Lm Dũng Lạc Trần Cao Tường

Vậy mà đã 10 năm rồi. Biến cố phong thánh không biết đã tạo được hãnh diện bao nhiêu hay vẫn là một trăn trở, một thách đố? Bàn lui hay bàn tới thì vẫn thấy các Thánh Ta chưa sáng giá bao nhiêu, ít ra là con cháu vẫn coi chưa bằng các Thánh Tây. Những bừng bừng khí phách của ngày lễ phong thánh 19 tháng 6 năm 1988 tại Roma, những buổi kỷ niệm 5 năm hay 10 năm phong thánh rầm tộ đông đảo với đầy đủ thủ tục và lễ nghi, rồi cũng đâu vào đó. Xem chừng các Thánh Ta chẳng ăn nhập gì với cuộc sống quá ư phức tạp với vận tốc mỗi ngày mỗi nhanh thêm và những giấy đòi tiền càng ngày càng chồng chất!

DỊP GỠ MẶT CHO BỚT TỦI?

Nhiều lúc tôi đâm ra nghĩ quẩn: Phong thánh để làm gì? Phong thánh là dịp cho người mình hãnh diện thì hãnh diện ở cái khổ nào? Chả lẽ cũng chỉ là một dịp gỡ mặt cho bớt tủi với thế giới?! Người ta có thánh thì nước mình nay cũng phải có thánh, mà được phong một lúc đông đảo nhất nữa. Không oai sao được. Chứ còn bảo oai thực sự ở chỗ nào thì mình còn bí lắm chưa trả lời dễ dàng được. Vì xem kìa, thế giới tiến bộ quá xa, đồ Tây đồ Mỹ là nhất, tìm mua cho bằng được. Chứ còn đồ nội hóa, thuốc "dân tộc", thì chỉ tổ làm cho thiên hạ lắc đầu. Chẳng nói ra mà có thể con cháu cũng coi các Thánh Ta như vậy chăng, cũng "đồ nội hóa" ấy mà, nên hững hờ cũng chẳng lạ gì. Có sùng kính khấn xin thì cũng chạy tới các Thánh Tây có gốc lớn như Thánh Vinh Sơn, Thánh An Tôn, Thánh Mạc Tín, Thánh Têrêsa Hài Đồng... cho chắc ăn.

Còn muốn đề cao thì cũng có thể lại đi đề cao một cách thật mặc cảm. Luận điệu luôn luôn là cái gì mình cũng ngon, chê Âu Mỹ là dở, đang xuống dốc trông thấy, sắp sập đến nơi. Vua Minh Mạng xưa ra sắc dụ cấm đạo mà dám bảo Tây phương là quân mọi rợ đến làm hủy hoại thuần phong mỹ tục, đang khi ông lại túi bụi cả đoàn thê thiếp và đi cóp nhặt từng tí những hủ lậu của nhà Mãn Thanh đang thống trị nước Tàu.

Nhiều khi đề cao cũng chỉ là những màn lợi dụng tự ái dân tộc để đẩy con nhà người ta vào chỗ chết cho những tham vọng. Ông Đỗ Mạnh Tri đã từng nhận xét mỉa mai trong cuốn Ngón Tay và Mặt Trăng (Đường Sống, trang 163-164):

"Tôi có cảm tưởng người mình khi bàn về Tây phương chưa có tâm trạng bình thường. Quá nhiều mặc cảm như lúc nào cũng lo đánh ... Tàu.

Triết Việt: tại sao mình không có triết gia lớn! Văn Việt: Tại sao mình không có tác phẩm lớn! Rồi bày ra triết Việt. Rồi những cuốn tiểu thuyết dày cộm.

Rồi gân cổ hát như đồng chí của quân đội Nga Xô. Rồi bảo dân mình không xây kim tự tháp nhưng xây ... đê. Rồi thổi phồng: Cộng sản thì xưng mình là dân tộc tiên tiến của lịch sử; Công giáo thì mình là con đầu lòng của Hội Thánh ở Á đông, mình có nhiều thánh nhất...

Rằng con em mình tại trường... Rằng cộng đồng Việt Nam hải ngoại... Bao giờ mình mới hết "hơn người"? Bao giờ mình mới hết đặt những câu hỏi kÿ khôi?".

Ông Đỗ Mạnh Tri không có ý bài bác việc xây triết Việt, văn Việt, tu đức Việt, nhưng chỉ nhấn mạnh về mặc cảm thường làm hỏng chuyện, mà chưa đi vào thực chất. Người Nhật đâu có chê Âu Mỹ, đâu dám tuyên bố mình là đỉnh cao trí tuệ loài người, và không dại gì đi bế quan tỏa cảng. Họ cứ mặc đồ Tây, sài máy Mỹ, rồi đóng góp cái bản lãnh của họ mà cải tiến, rồi biến chế thành của riêng họ, vừa tốt vừa bền, như xe Toyota, máy Sony. Họ có thực chất để mà hãnh diện, mà góp phần với thế giới, chả cần phải tự khoe mẽ mà mọi nước phải phục.

Như vậy, vượt qua được mặc cảm đông với tây hay mặc cảm tự ti với tự tôn, để nhìn rõ được ý nghĩa của biến cố phong thánh, thì mới nhận ra được món quà đích thực mà mình đã được trao. Trong một kinh đọc kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam có câu "Các Thánh Tử Đạo là ân huệ Chúa ban cho Hội Thánh Việt Nam, vì thế chúng con dâng lời cảm tạ và ca tụng Chúa". Ở Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Denver tháng 8 năm 1993, trong một cuộc gặp gỡ riêng cộng đồng Việt Nam, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II kêu gọi người Việt hãy biết hãnh diện về quê hương có 117 vị tử đạo, hãy giữ lấy truyền thống và bản lãnh Công Giáo của mình!

Ân huệ gì? Hãnh diện nào? Dịp kỷ niệm 10 năm phong thánh đúng là lúc dừng chân để nhận định và triển khai, mong đóng góp được gì cho chính mình, cho người mình với đà tiến hóa của nhân loại trong lúc cựa mình bước vào thiên niên thứ ba.

THỜI ĐIỂM TÀU TITANIC

Vào thời điểm kỷ niệm 10 năm phong thánh, phim Titanic đang thu hút rất đông người và thành công vượt kỷ lục ngành phim từ xưa tới nay. Đêm 14 tháng 4 năm 1998 đúng 86 năm sau cái đêm hãi hùng của tàu Tatanic bị đắm, tôi đi xem phim này lần thứ hai. Hôm phim mới ra thì tôi đi xem lần đầu cho biết như mọi người vì đề tài rất ư hấp dẫn. Nhưng lần thứ hai thì tôi đi xem với một tâm tình khác: chính mình là một nhân vật đang có mặt trên con tàu lịch sử vượt lục địa cũ Âu Châu sang tân thế giới, vượt những ngày cuối cùng của thế kỷ này để vượt sang ngàn ngàn năm mới. John P. Eaton trong cuốn Titanic, Cuộc Hành Trình Qua Thời Gian (Titanic A Journey Through Time) đã bày tỏ: "Chúng ta có thể thấy phần nào chính chúng ta trong đám người đi chuyến tàu Titanic đó. Chúng ta có thể ở tầng trên, ở hầm máy... Thử nghĩ coi chúng ta đã hành động ra sao?"

Phim diễn lại cuộc đắm tàu Titanic năm 1912 với truyện tình mùi mẫm giữa nàng Rose 17 tuổi vừa đẹp vừa sang và chàng nghệ sĩ Jack Dawson hào hoa mà nhà nghèo. Con tàu này được dựng rất tốn công tốn của, lớn nhất thế giới vào thời điểm đó, dài bằng ba sân banh, cao 12 tầng, và chứa trên 2200 hành khách. Ngày 10 tháng 4 năm 1912, tàu Titanic khởi hành chuyến đầu tiên từ bến Southampton của vương quốc Anh đang dẫn đầu thế giới về hàng hải thời đó. Và để tỏ nét hãnh diện hơn, tàu ghé nước Pháp chơi ở cảng Cherbourg và nước Ái Nhĩ Lan ở cảng Queenstown, rồi lên đường vượt Đại Tây Dương để đi Nữu Ước. Chuyến đầu tiên mà cũng là chuyến cuối cùng. Đúng là con tầu định mệnh!

Câu chuyện được chính bà Rose là nhân chứng còn sống sót kể lại khi bà đã 101 tuổi vào năm 1996. Đêm 14 tháng 4 năm ấy là một đêm không trăng sao, biển cũng thật lặng. Bên ngoài trời lạnh tới độ đông nước, nhưng bên trong tàu Titanic là cả một thiên đường vui chơi đầm ấm, nhất là ở khu vực hạng nhất. Mọi người hân hoan và hãnh diện được có mặt trên chuyến tàu lịch sử đầy kiêu hãnh của loài người này, vì tàu được đóng với một kỹ thuật cao độ khiến không thể nào chìm được.

Vào khoảng 9g30 tối, mọi sinh hoạt trên tàu vẫn bình thường, mặc dù hai nhân viên nhận tin là Jack Phillips và Harold Bride cho biết có nhiều băng sơn nhỏ trôi lềnh bềnh. Một số tàu khác cũng cho biết như vậy, nhưng điều đó ăn thua gì với con tàu vĩ đại này. Tàu Mesaba báo tin khẩn cấp rằng có băng sơn lớn ngay trên hướng tàu Titanic. Vào lúc 11g30 gần nửa đêm thì Frederick Fleet trên đài kiểm báo bỗng trông thấy một khối băng sơn sừng sững ngay trước mặt, liền hốt hoảng báo tin cho thuyền trưởng Smith. Nhưng mọi sự đã quá muộn. Mọi nỗ lực bẻ tay lái đã không hiệu quả gì nữa. Mười phút sau, khối băng sơn đã đụng mạnh vào thành tàu, rạch ra một khe dài cả 60 thước. Thế là nước bắt đầu ùa vào.

Điều bất hạnh nhất lại cũng nằm ở niềm kiêu hãnh quá lố. Vì nghĩ rằng tàu không thể nào chìm được nên trên tàu chỉ có 20 chiếc thuyền phao, không cách nào cứu nổi trên 2 ngàn người. Thế là thuyền trưởng ra lệnh chỉ có đàn bà và trẻ em được xuống thuyền mà thôi. Con số này vào khoảng 700 người.

Con tàu bắt đầu chìm dần. Cảnh hốt hoảng la hét hỗn loạn xảy ra thật rùng rợn. Nhưng một cảnh cảm động là dàn nhạc vẫn tiếp tục chơi để tạo tsự bình tĩnh cho những người còn lại. Đám người này mang tinh thần trách nhiệm và tự trọng, không hốt hoảng tìm cách chạy thoát một cách hèn nhát theo bản năng sinh tồn như nhiều người khác thấy trong phim. Theo những nhân chứng kể lại, Bà Straus nhất định không chịu xuống thuyền phao. Bà nói: "Tôi không thể nào xa cách chồng tôi. Chúng tôi đã sống với nhau, thì chúng tôi cũng sẽ cùng chết với nhau".

Các ống khói tàu đã bắt đầu sập xuống. Sau hai tiếng đồng hồ uống sặc nước biển, con tàu bị bể bụng gẫy ra làm hai dựng đứng lên rồi lao xuống vực thẳm thành ngôi mộ khổng lồ chôn sống 1523 người.

DẤU CHUYỂN MÌNH

Bây giờ thì người ta bắt đầu hiểu tại sao phim ăn khách như vậy. Ngoài những lý do thắng 11 giải Oscar về tài đạo diễn, về hình ảnh, kỹ thuật và nhạc đệm ... phim Tatanic đúng là một biểu tượng, một điển hình cho con tàu của cả một nền văn minh mà nhân loại đang mua vé để bước lên vượt sang năm 2000, không còn là chuyện của Đông hay Tây nữa.

Cuộc đắm tàu Titanic được diễn lại vào đúng lúc cuộc đắm tàu của các con rồng nhỏ Á Châu đến hồi khốc liệt. Mà cũng có thể là một diễn tả của cuộc đắm tàu của con người vào cuối thế kỷ 20 với những tự mãn đang phải trả giá thật khắt khe đến thật bất ngờ khi cứ chắc rằng không thể đắm được. Trên mạng lưới điện toán về Titanic, một lời bình phẩm thật sâu sắc: "Đêm 14 tháng 4 năm 1912, vào lúc 11g40, chiếc tàu lớn nhất thế giới do tay loài người làm ra đã xô vào băng sơn ngay giữa Đại Tây Dương. Hai giờ bốn mươi phút sau, tàu chìm hoàn toàn. Thế giới Tây Phương cũng từ chuyện đó mà thay đổi mãi mãi. Đầu óc con người thay đổi. Lòng tự mãn tàn lụi. Cơ cấu và đẳng cấp xã hội thay đổi. Kỹ thuật trở thành mối hoài nghi. Con tàu Titanic đã bắt đầu cả chuỗi những biến cố mà kết luận chưa thể thấy được".

Tàu Titanic nói lên nhiều điều cho nếp sống văn minh hiện tại, cho thấy nhiều giá trị đảo ngược với những gì đang được cân đo bằng máy móc. Hình ảnh tương phản của lối sống thoải mái của anh chàng "tuy nghèo mà vui" Jack Dawson với cái cảnh gò bó lễ nghi kiểu cách thật tội nghiệp của đám nhà giầu trong khu vực hạng nhất. Cái chết bất ngờ và khủng khiếp của đa số khách trên tàu làm ta nghĩ sâu xa hơn về lẽ phù du của văn minh tiến bộ của đời người và biết coi trọng những giá trị tinh thần lâu nay bị quên lãng. Cũng như một con tàu vừa trẻ vừa đẹp khác là công nương Diana cũng bị đắm ở đường hầm Paris. Thì ra đây cũng là một dấu chỉ cho thấy những chuyển biến về hiện tượng tâm lý xã hội, khi con người bon chen vật chất biết nhìn ra giá trị tình yêu của cô Rose dám liều vượt qua những tù túng của nếp sống gò bó nhốt giam để tập bay ở đầu mũi tàu với Dawson đi tìm chân trời hạnh phúc. Cũng như người ta bắt đầu biết trân quí bàn tay xương xẩu nhăn nheo nhưng đầy ắp tình thương vỗ về với ánh mắt dịu hiền của Mẹ Teresa bên Calcutta.

THỜI ĐIỂM TÀU 117

Một công ty Mỹ và Thụy sĩ đang đóng lại con tàu Titanic và sẽ hạ thủy năm 2002. Âu đây cũng là dấu chỉ nữa, khi con người cần tìm một cách khác an toàn hơn để đi vào ngàn năm mới, tìm ra được một lối thoát trong cơn bị nhận chìm giữa những nhầy nhụa ngột ngạt bế tắc của nền văn minh vật chất hiện tại.

Nhìn như vậy thì biến cố phong thánh quả là một đáp ứng thời điểm. Phong hiển thánh không phải chỉ cho riêng Việt Nam, mà là cho toàn thể Hội Thánh hoàn vũ không phân biệt đông tây. Đúng lúc cần phải giới thiệu cho thế giới một con tàu mới, an toàn đảm bảo chắc chắn. Vì phong thánh không phải để an ủi một lớp dân đã quá nhiều khổ đau bầm dập hay để lấy oai cho đỡ tủi, mà là công nhận và giới thiệu một mẫu sống, một phương cách mang lại an vui hạnh phúc thật. Đường lối như vậy vẫn thường được gọi là đường tu đức. Mỗi thời đại đều xuất hiện những vị thánh với những đường tu đức hợp cảm quan hơn. Một cách cụ thể, đường tu đức là con tàu vượt biển cuộc đời, như tàu vượt biên 301, 302. Con tàu mới này nay mang số 117, đại biểu cho cả mấy trăm ngàn tín hữu Việt đã kiên trung đến cùng.

Tàu 117 đã có thành tích đạt đích rõ ràng: không một sức mạnh nào nhận chìm nổi, không một khó khăn nào phá vỡ được. Mà đi tàu này lại không phải tốn phí phức tạp và cao xa như Titanic. Đang khi mọi người phải hăm hở đi tìm hạnh phúc mãi đâu, thì Tàu 117 lại ở ngay trong tầm tay mua vé của mỗi người, qua những tầm thường hằng ngày, qua mọi hoàn cảnh buồn vui đắng ngọt. Tàu 117 lại mang nét Việt, hợp cảm quan người Việt, gần gũi thân quen có sẵn trong mạch máu Việt. Đường tu đức như vậy lại chẳng phải là một khám phá tuyệt diệu vào thời điểm này sao? Tàu 117 lại phản ánh nét văn hóa Việt qua truyện thiêng bánh dày bánh chưng. Đang khi các hoàng tử khác lo đi xa tìm kiếm những thứ hiếm lạ mong sẽ làm vừa lòng vua cha mà được truyền ngôi làm vua sống sang giầu, Hoàng Tử Tiết Liệu chỉ biết tìm vào bên trong, tìm vào nội tâm, và được ơn trên soi sáng cho biết bí quyết đạt hạnh phúc nằm ngay trong nhà, ở ngay sau vườn. Vuông phải đi với tròn thì mới vuông tròn viên mãn. Văn minh vật chất mà không bác sang bờ tâm linh được thì tự hủy hoại mà thôi. Chính vì thế mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã giới thiệu những con tàu hợp thời kiểu 117 như trong tông thư "Đệ Tam Thiên Nhiên Sắp Đến":

"Trong viễn tượng hướng về đệ tam thiên niên, tòa thánh sẽ ghi vào trang sử tử đạo của hội thánh hoàn vũ, lưu ý nhiều đến sự thánh thiện của những người, ngay ở thời đại chúng ta, đã hoàn thành đời mình trong chân lý của chúa Kitô. Một cách hết sức đặc biệt, cần ghi nhận sự anh dũng của các nhân đức nơi những người nam, nữ, đã thực hiện ơn gọi làm người Kitô trong cuộc sống hôn nhân: trong xác tín rằng nhiều hoa trái thánh thiện nảy sinh trong bậc sống này, chúng tôi thấy cần phải tìm ra những phương cách thích hợp nhất để đề cao và nêu lên cho toàn thể Hội Thánh làm mẫu mực và khích lệ những người chồng người vợ Kitô giáo" (trang 40-42).

MỘT KHÁM PHÁ MỚI

Tàu Titanic đã bị xô bể bất ngờ, đang chìm dần, mọi người náo loạn, mà số thuyền phao lại quá ít. Biết tìm giải pháp nào bây giờ?

Thì đây Hội Thánh giới thiệu tàu 117 đủ cho mỗi người, có sẳn ngay bên rồi. Hội Thánh muốn nhắn gửi thế giới một thông điệp là chính con đường đơn sơ của Phúc Âm với lời mở đầu theo Thánh Mác-cô là: "Nước Trời đã gần bên, hãy thống hối và tin vào Phúc Âm". Chúa đang hiện ra với mình mỗi phút giây. Tin hay không tin, thế thôi. Tin là thấy phép lạ. Đây là cốt lõi tóm lược tất cả đường tu đức Việt: Nước Trời, tức là vườn Địa Đàng, vườn Hạnh Phúc đang ở ngay bên rồi; Chúa đang ở sẵn đây, lúc này, còn phải tìm đâu xa, còn phải thiếu thốn chi; thấy được Chúa trong mọi sự, qua cả những lúc đen tối như đi trong lũng tối. Nghĩa là cũng chẳng phải tìm con đường nào cả, vì chẳng phải đi đâu mà tìm. Chỉ cần mở mắt là thấy. Chính vì thế mà ngay trong cả những gian nan như khi bị nhốt trong tù, thánh thi sĩ Dũng Lạc vẫn diễn được niềm tin tưởng an nhiên như trong bài thơ gửi cho một người bạn:

Lòng nhớ bạn nỗi còn vất vả,

Dạ thương khách chạy chưa yên hàn.

Đông qua tiết lại thời xuân tới,

Khổ tạm mai sau hưởng phúc an.

Đúng là con đường đơn sơ nhất, ngắên nhất, dễ nhất, gần gũi nhất, mà sau đó mấy chục năm, thánh Têrêsa ở Lisieux cũng khám phá ra, thật giống điệu bước của thánh Ven. Chính khám phá này mà ngài được tôn phong làm tiến sĩ hội thánh vào tháng 10 năm 1997.

Cũng như các Thánh Việt, cuộc sống thánh nữ Têrêsa bình lặng quá tưởng chừng chẳng có gì để nói. Khi qua đời vào năm 1897 lúc mới 24 tuổi, thánh nữ cũng chỉ để lại một số trang bút ghi những cảm nghiệm nhỏ qua những chuyện thường ngày như giặt quần áo, quét nhà, vào nhà nguyện, nhìn ngắm bầu trời ban đêm đầy saoẦ gọi là "Truyện Mùa Xuân Bông Hoa Nhỏ" xem ra chẳng có gì đặc sắc. Một hôm nằm bệnh sắp chết, thánh nữ nghe một chị xì xào: "Têrêsa Hài Đồng sắp chết rồi. Chị ấy qua đi không biết mẹ bề trên phải nói chuyện về chị làm sao. Chắc mẹ sẽ lúng túng lắm, vì chị ấy đáng yêu thì đáng yêu thật, nhưng chị chẳng làm nên truyện gì đáng nói".

Vậy mà người nữ tu trẻ Têrêsa đã khai mở được con mắt "tiến sĩ" thứ thiệt để thấy được Chúa Tình Yêu đang hiện diện, đang đong đầy muôn kÿ diệu qua chính những tầm thường nhỏ bé, qua cả những nghịch cảnh tím đen. Vì có gì phải tìm đâu.

Đây chẳng phải là con đường giản đơn nhất và ngắn nhất để đạt tình yêu hạnh phúc sao? Nhãn quan của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng đã làm Mẹ Têrêsa Calcutta xác tín, vì thế Mẹ đã nhận thánh nữ làm "sư mẫu" khi khấn dòng, và từ đó mang tên là Têrêsa. Và cuộc đời của Mẹ Têrêsa cũng đã thực sự thể hiện nhãn quan tình yêu và tín thác trên như lời Mẹ nói: "Thánh nữ Bông Hoa Nhỏ là một mẫu gương lạ lùng nhất, làm những việc nhỏ với một tình yêu lớn, làm những việc bình thường với một tình yêu phi thường. Đó là lý do Ngài đã trở thành vị thánh lớn".

CHÀNG DŨNG SĨ VÀ CON NGỰA HỒNG

Đa số các thánh Việt đều là những giáo dân sống trong bậc gia đình. Đức tin đã chỉ cho các ngài nhận ra Chúa ở ngay trong gia đình, trong bếp, trong ruộng vườn, trong xứ đạo. Vì nơi nào có Chúa thì ở đó là Thiên Đàng, mà Chúa là Đấng hằng hữu, ở khắp mọi nơi. Như cái thấy của thánh Têrêsa Mẹ:

"Chúa đang đi giữa những xoong chảo".

Đường tu đức như vậy rất hợp cảm quan thời đại, khi Hội Thánh đề cao một con đường tu đức cho giáo dân, cho đại chúng, hợp với cuộc sống bình thường của mỗi người, chứ không quá cao vời lo với không tới. Điều then chốt vẫn là con mắt đức tin, thấy được Chúa đang hiện diện yêu thương săn sóc, mọi nơi mọi lúc. Cũng là những thực hành rất đơn giản, như đọc kinh, dự lễ, chu toàn bổn phận trong gia đình, dấn thân xứ đạo... Cũng là những việc xem ra tầm thường, nhưng làm với ý thức con tim, thì thấy được đời sống là một phép lạ.

Ông bà nguyên tổ đang ở ngay trong vườn địa đàng hạnh phúc mà lại ước ao phải hơn thế nữa, muốn đi tìm chỗ khác nên ăn thêm một vài "trái cấm" may ra khấm khá hơn chăng. Vì thế mà hạnh phúc đã buột rakhỏ khỏi tầm tay. Những gì đang được trao ban là hạnh phúc địa đàng, sao mình không biết hưởng nhận mà còn ham muốn đi tìm gì nữa đây?!

Riết rồi mình cũng giống như chàng dũng sĩ và con ngựa hồng. Chàng cỡi ngựa rong ruổi suốt cuộc đời đi tìm hạnh phúc, đi hết chỗ này tới chỗ kia cho đến xế chiều cuộc đời, áo đã sờn vai, phải dừng chân bên bờ suối vì mỏi mệt không qua nổi nữa. Bỗng chàng thấy con ngựa hồng hóa thân thành người yêu xinh đẹp tuyệt vời biến mất. Thì ra suốt quãng đường đời, chàng vẫn ngồi trên hạnh phúc mà không nhận ra.

Con ngựa hồng hay con tàu là chính căn phòng hay ngôi nhà đang ở, cái ghế đang ngồi, cái bút đang viết, đôi giầy đang đi, con mắt đang đọc, đang nhìn được mầu sắc, tai đang nghe tiếng chim hồng y hót líu lo, mũi đang hít thở, tim đang đập, tay đang cử động, bao nhiêu cơ năng trên óc đang làm việc hơn máy điện toán xa, nháy mắt là hình ảnh cách đây cả mấy chục năm hiện lên ngay... Tất cả là phép lạ đời sống.

Cũng với cái nhìn và cái thấy này mà những bức tranh của họa sĩ Vincent Van Gogh được bán với giá khủng khiếp vào đúng thời điểm phong Các Thánh Việt năm 1988. Bức tranh hoa hướng dương được bán 42 triệu tiền Mỹ, bức hoa cầu vồng (irises) giá 49 triệu. Người mua tranh không điên đâu. Họ đã nhận ra tin vui mà Van Gogh muốn chuyển đạt cho thời đại: Bông hoa bạn mua với giá 49 triệu thì cũng đang nằm ở ngay trong vườn sau nhà; kho trời lồng lộng đang tuôn đổ, chỉ cần mở tâm ra mà lãnh nhận, cuộc sống trở nên giàu có biết chừng nào, có cần gì phải chạy theo hăm hở một cách mệt nhọc và phờ phạc như con người ngày nay!

CÔNG CHÚA BOKASSA

Căn bản của đường tu đức Việt là con mắt thấy này, vẫn gọi là con mắt của niềm tin. Phút giây bỗng ra nhận ra là mình là ai và Chúa là ai là cả một phép lạ. Trong cuốn Đường Nở Hoa Lê Thị Thành tôi có kể lại câu truyện công chúa Bokassa. Truyện thật xẩy ra ở Sài Gòn trước đây khá lâu. Một cô bé lai đen nghèo khổ bán bắp luộc ở vệ đường kiếm sống qua ngày, bỗng được một số người đến đón về tòa đại sứ một nước Phi Châu, được thay quần áo mới và trang điểm sang trọng quá sức tưởng tượng.

Thì ra trước đây Bokassa là một trung sĩ đi lính Lê dương cho Pháp sang Việt Nam, đã để lại một đứa con rơi, sống chết thế nào chẳng biết. Bây giờ ông đã lên làm vua, đầy quyền uy và vàng bạc, muốn tìm lại đứa con đó. Thế là ông cho người đi tìm nhiều ngày, qua nhiều điều tra. Và cuối cùng ông đã tìm thấy đứa con gái của ông và xin rước về cung vua...

Bỗng một ngày, cô bé lọ lem trở thành công chúa giầu sang. Câu chuyện này cũng chính là câu chuyện của những người khám phá niềm tin trong Đạo Chúa: mọi người Kitô bỗng trở thành con của vua Trời Đất, thừa kế "ngai vàng" hoàng vương sang trọng và quyền năng. Lạ lùng quá phải không?

Đó cũng chính là câu chuyện của "chú bé lọ lem" Dũng Lạc. Khi sang Paris tìm tài liệu về Các Thánh Việt, tôi có chụp được hình đôi hài của Thánh Dũng Lạc, thật đẹp và thật sang, trong phòng trưng bày các di tích Tử Đạo của Hội Thừa Sai Paris. Đó chính là đôi hài ngài vẫn đi khi làm lễ. Đi hài để làm lễ là nói lên phong thái sang trọng hoàng vương. Cử hành thánh lễ và rước lễ đúng là mang được "đôi hia bẩy dặm" có mãnh lực vượt qua mọi khó khăn ngăn cách. Có ngờ đâu, ngài xuất thân là con một gia đình lương dân quá nghèo, phải mang cho một thầy giảng nuôi hộ, được dạy giáo lý, và năm 12 tuổi mới được rửa tội nhập đạo Công Giáo.

TÌM MUA NGỌC TRAI

Con mắt khám phá ra kho tàng giàu sang của cuộc đời chính là con mắt đức tin mà ngay buổi đầu tiên đặt chân đến Cửa Bạng, Bắc Việt, vào ngày 19 tháng 3 năm 1627, Cha Đắc Lộ đã chỉ lối. Ngài gợi đúng tâm lý của người dân Cửa Bạng là nơi nhiều người sinh sống bằng nghề biển và tìm ngọc trai.

"Chúng tôi vừa cập bến thì một số đông dân xứ này thấy chúng tôi đến gần liền lấy thuyền của làng lân cận đến mừng chúng tôi, chất vấn chúng tôi xem chúng tôi là những người nào, từ đâu mà tới và đem theo những hàng hóa mới lạ nào. Tôi đáp nhân dịp này chúng tôi đến bán cho người Đất Bắc một hạt trai quí mà không đắt, để cho người nghèo khó nhất cũng có thể mua được miễn là có ý ngay lành. Thấy dân chúng tỏ ra muốn xem, thì tôi cho họ hiểu là hạt trai này không thể coi bằng con mắt thân thể nhưng bằng con mắt tinh thần biết phân biệt thật giả. Nói tóm lại chúng tôi đến giảng dạy đạo thật có giá hơn hết các hàng hóa của người Ấn Độ, và một mình nó có thể mở đường tới cõi phúc đích thực trường cửu"

"Khi nghe nói về điều mà họ thường gọi là Đạo theo ngôn ngữ các nho sĩ, và Đàng theo ngôn ngữ bình dân có nghĩa là đường lối, thì họ tò mò muốn tôi cho biết đạo thật và đàng thật mà chúng tôi định rao giảng. Sau đó tôi lấy đề tài thảo luận với họ về nguyên lý vạn vật, tôi quyết định công bố dưới danh hiệu Chúa Trời Đất, vì không tìm được trong ngôn ngữ họ một tên riêng để chỉ Thượng Đế" (Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài, Hồng Nhuệ dịch, trang 82-83)

Một trong những lý do khiến giáo dân hờ hững với mẫu sống tử đạo của các thánh Việt, có thể vì nghĩ rằng việc bị chém đầu chết vì đạo là một hành động xa vời ít ai có dịp chạm tới. Nhưng thực ra nguyên nghĩa chữ "tử đạo" là làm chứng. Khám phá ra và làm chứng với một lối sống an nhiên dũng lạc trong cả cuộc sống thường ngày chính là cốt tủy của "tử đạo", chứ không chỉ nhằm vào hành động bị chém đầu tử đạo, mặc dù hành động này là kết tinh của cả một đời làm chứng. Tin Mừng của Chúa là tin có sức làm cho đời mình mừng thật, giầu có thật, là con tàu vượt biển an toàn đảm bảo thật.

LÀM MỘT CÁI GÌ ĐI CHỨ!

Triết gia Kim Định khi còn sống thường hay nhắn gửi một câu với những ai gặp gỡ: "Làm một cái gì cho dân mình ngóc đầu lên đi chứ!"

Quà đã trao, tàu đã sắm, kho vàng đã chỉ cho. Đã 10 năm rồi mà mình chưa thấy động tĩnh chuyển mình bao nhiêu thì cũng lạ thật! Cứ tưởng tượng cục kim cương hình trái tim quí báu vô ngần do anh bồ nhà giầu tặng cho cô Rose trong phim Titanic mà lại đưa cho một đứa trẻ thì chắc nó sẽ không thích bằng một cục kẹo. Đúng là vô tri bất mộ, vì nó không biết nên không ham thích.

Vậy dịp kỷ niệm 10 năm phong thánh, thiết nghĩ là cơ hội quí nhất để mình tự kiểm điểm và hoạch định về phần góp của mình, dù nhỏ bé, để nhận ra kho vàng đã được trao ban và khai triển xử dụng, hình thành một đường tu đức đạt an vui hạnh phúc trong mô hình tạm gọi là Tri-Mộ-Hành. Ít nhất mình có thể để tâm vào một trong ba lãnh vực sau đây:

1. TRI

Có biết mới mộ mến ham thích. Tìm hiểu biết bằng việc học hỏi, gom tài liệu về các Thánh Việt, mua sách báo liên hệ, ủng hộ tài chánh cho những hoạt động này.

Hiện đã có một số sách viết về các thánh Việt: Bộ Dòng Máu Anh Hùng của LM Vũ Thành, Thiên Hùng Sử Ca do CĐCG San Jose xuất bản, Giáo Hội Việt Nam (tiểu sử Các Thánh Tử Đạo) của Đ.Ộ Trần Ngọc Thụ, Tìm Hiểu 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam của Nguyễn Ngọc Lan, Máu Tử Đạo Trên Đất Việt Nam của Trịnh Việt Yên, Những Ngày Đẫm Máu của Hồ Linh, Tài Liệu Học Hỏi của ủy ban trung ương, Giây Phút Thánh (của Jean-Pierre de Caussade rất gần với đường tu đức Việt, do một nhóm linh mục tu sĩ phóng dịch), Đường Nở Hoa Lê Thị Thành của LM Trần Cao Tường v.v. Trên mạng lưới điện toán đã có gia trang Đường Tu Đức Việt http://vietcatholic.net/caotuong/tuduc . Trong những ngày sắp tới sẽ mở một gia trang đặc biệt kính dâng Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, rất mong được nhiều người đóng góp.

2. MỘ

Có mộ mến ham thích thì mới tìm kiếm. Những người đã được đi tàu Titanic hay lái xe Lexus thì nét mặt thật rạng rỡ. Được đi Tàu 117 chắc mắt phải sáng lên hơn. Phát động lòng mộ mến sùng kính các Thánh Việt là một việc làm nói lên niềm hãnh diện đúng nghĩa. Để đi vào thực tế có thể thực hành được, hiện nay một số linh mục và tu sĩ đã soạn chung một tập tài liệu, gọi là Tuần Chín Ngày Khấn Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, và đã bắt đầu phát động tại nhiều cộng đoàn.

Chín ngày được dựa theo chín bước nối tiếp nhau theo tiến trình đường tu đức truyền thống của Giáo Hội qua những phong trào sống đạo hiện nay. Mục đích để học hỏi và bước theo mẫu sống nhân chứng Tin Mừng của Các Tổ Tiên Đức Tin. Đồng thời cũng để tạo bầu khí sùng kính và cầu nguyện với các ngài qua phần Khấn. Giáo dân Việt đã quen với truyền thống các "tuần khấn" với Đức Mẹ, thánh Mạc Tín, Thánh Vinh Sơn, thánh Antôn...thì đây cũng là hình thức đơn giản rất gần gũi với cung cách sùng mộ của đại chúng, sẵn sàng để dùng chung cho cả cộng đoàn trước thánh lễ, trong các gia đình hay cá nhân.

3. HÀNH

Việc phát triển đường tu đức, lòng sùng kính và cầu khấn với các thánh thường được khơi động và thúc đẩy do những trào lưu và dòng tu. Chẳng hạn như ở những giáo phận do dòng Đa-Minh phụ trách trước đây, thì việc sùng kính thánh Vinh Sơn và thánh Mạc-Tín rất mạnh. Lý do dễ hiểu là vì hai vị đó đều thuộc dòng Đa-Minh. Còn ở những giáo phận do các cha hội thừa sai Paris phụ trách, thì lại nổi ở lòng sùng kính thánh Têrêsa Hài Đồng, vì là người Pháp. Ở Hoa Kÿ, thì cả ba vị trên không phải là không thiêng, nhưng thấy ít được đề cập cho bằng các thánh khác như thánh Phan-Sinh Khó Khăn, thánh Ta-đêô (St Jude), thánh Christopher...

Đường tu đức nào mà chẳng cần được khai triển. Các linh mục miền Đông Nam Hoa Kÿ đã thử tổ chức một buổi tĩnh tâm theo đường tu đức cácThá Thánh Việt vào năm 1995. Thánh nào mà chả thiêng. Chả lẽ thánh Tây thiêng hơn thánh Ta? Phép lạ xẩy ra là do lòng tin kính và sùng mộ. Chúa đã nói : "Ai tin vào Thầy, thì chẳng những có thể làm phép lạ như Thầy, mà còn lớn lao hơn" (Gioan 14:12). Ít thấy nói tới các phép lạ do Các Thánh Ta, cũng chỉ vì chưa đề cao đúng mức và đẩy mạnh thành một phong trào tu đức với lòng sùng kính và cầu khấn đó thôi.

CÒI HỤ LÊN ĐƯỜNG

Đức Thánh Cha đã hụ còi cho tàu 117 nhổ neo, đã bảo người Việt phải hãnh diện vào con đường của mình. Niềm hãnh diện với thế giới nằm ở chỗ là cả một đạo sống Phúc Âm theo tinh thần Việt đã được công nhận và giới thiệu. Đây quả là một tin vui gửi thời đại mới.

Niềm hãnh diện này phải như một trào lưu bộc phát, gợi hứng cho những sáng tác thơ, văn, kịch, vũ, chụp hình, điêu khắc, hội họa và nghệ thuật Công Giáo, cho những sáng tác về thánh ca đầy thần khí có sức tác động tập thể dân Chúa cũng như chuyển đạt được sứ điệp Tin Vui đến với anh chị em ngoài Công Giáo. Hàn Mặc Tử đã đúng là một nhà thơ Công Giáo chuyển được sứ điệp Tin Vui bằng những dòng thơ tuyệt tác. Trong Thi Nhân Việt Nam, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã viết ngay sau mấy tháng khi nhà thơ qua đời, công nhận tài năng và vai trò chứng nhân đức tin Công Giáo của Hàn Mặc Tử đã nhập thể trong dòng sống chung của một dân tộc:

"Thơ Hàn Mặc Tử ra đời, điều ấy chứng tỏ rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những tình cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể" (trang 212).

Linh mục nhạc sư Ngô Duy Linh mới qua đời đã là một gợi hứng cho đường hướng này. Từ biến cố phong thánh năm 1988, trong mắt của con chim Thăng Ca Ngô Duy Linh, một thị kiến đã bật sáng, phương cách và con đường cho người mình có thể mọc cánh vươn lên đây rồi: một đàn chim mà con chim đầu đàn là Dũng Lạc đang bay lên trong "Ngày Vinh Thắng". Ngài ao ước có nhiều nhạc sĩ cùng gom sức khơi lên nguồn cảm hứng này.

Đông qua tiết lại thời xuân tới
Khổ tạm mai sau hưởng phúc an.
Con đường Dũng Lạc tròn dâng
An nhiên đạo sống chứng nhân anh hùng

(bài Gương Bất Khuất)

Và từ ngày đó, các bài sáng tác của nhạc sư Ngô Duy Linh đều hướng về một chủ đề mà thôi, kể cả những bài đào tạo các nhóm Chim Non như Đàn Chim Dũng Lạc, Chim Thăng Ca... Khởi đầu là bài "Ngày Vinh Thắng" với những tiếng trống lệnh như tiếng trống đồng vang lên từ động Đông Sơn, bừng lên những bó đuốc từ động Mê Linh, động Hoa Lư, động Lam Sơn. Ai nghe bài này mà chả thấy máu mình sôi lên, mắt mình sáng rực nhìn thấy thị kiến một đàn chim Việt đang bay lên theo cánh chim Tiên suốt dọc dài lịch sử, vượt lên khỏi những bầm dập bi thảm của Việt tộc. Tiếp đến là các bài như Gương Bất Khuất, Tình Yêu Tuyệt Đối, Khúc Sáo Ân Tình, Âu Ca Dũng Lạc...

Niềm tin mọc cánh chim âu,
Lòng đầy thần lực tuôn trào suối thiêng.
Đường Dũng Lạc, lối bay lên
Hùng dũng an lạc như tiên như rồng.
Bước theo đạo sống vuông tròn
Mang gươm thập giá khơi dòng tình yêu
Con đường nghiền nát trầu cau
Nên màu đỏ thắm nên màu sắt son.

(bài Âu Ca Dũng Lạc)

Tàu 117 đã hụ còi nhổ neo để đi sang đất mới, đi vượt vào thời điểm 2000. Con tàu này an toàn và vui nhất vì có chính Chúa là thuyền trưởng dẫn dắt thì còn chi sợ hãi. Hãy giữ cho mình một chỗ trên tàu, và quảng bá thúc đẩy những người quen biết ghi danh nhanh lên. Trong các vị thế khác nhau, mình phải làm một cái gì cho dân mình bước lên đi chứ!



Gia Trang CTTDVNGia Trang CTTDVN

Copyright © 1998 by Nolaviet & Vietcatholic Network. All rights reserved.
The material on this site may not be reproduced, except for personal, non-commercial use, and may not be distributed, transmitted, cached on proxy servers, or any information storage and retrieval system, except with the prior written permission of New Orleans Louisiana Vietnamese Online (nolaviet.com) and/or Vietnamese Catholic Network (vietcatholic.net). All requests for permission to reproduce material from this work should be directed to lieu@vietcatholic.net or info@nolaviet.com