|
|

|
TÔNG THƯ "ROSARIUM VIRGINIS MARIAE" CỦA ĐỨC THÁNH CHA
GIO-AN PHAO-LÔ II GỞI CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC VÀ CÁC TÍN HỮU VỀ RẤT THÁNH MÂN CÔI
DẪN NHẬP
1. Kinh mân côi kính Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, dần dần được hình thành trong Ngàn
năm thứ hai dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần Thiên Chúa, là một lời kinh được vô
vàn các vị thánh yêu thích và được Huấn quyền khuyến khích. Đơn sơ nhưng sâu sắc,
lời kinh này vẫn là một lời kinh có ý nghĩa lớn lao vào buổi hừng đông của Ngàn
năm thứ ba này, vì mang lại hoa quả thánh thiện. Nó dễ dàng hoà vào cuộc hành
trình thiêng liêng của đời sống ki-tô hữu, đời sống này sau hai ngàn năm vẫn
không đánh mất sự tươi trẻ của buổi ban đầu và cảm thấy được Thánh Thần Thiên
Chúa lôi kéo chèo ra chỗ sâu (duc in altum!) để một lần nữa loan báo, và
cả đến hô to lên, trước thế gian rằng Đức Giê-su Ki-tô là Chúa và Đấng Cứu độ,
là đường, sự thật và sự sống (Ga 14,6), mục tiêu của lịch sử nhân loại và đích
điểm mà các khát vọng của lịch sử và văn minh hướng về.1
Kinh mân côi, dầu rõ ràng gắn liền với Đức Ma-ri-a, chủ yếu là một lời kinh lấy
Đức Ki-tô làm trung tâm. Qua vẻ giản dị của các yếu tố, lời kinh có được chiều
sâu của toàn bộ sứ điệp Tin mừng, mà ta có thể gọi là một bản tóm lược. Qua lời
kinh ấy vang vọng lại lời kinh của Đức Ma-ri-a, kinh Magnificat ca ngợi việc
Nhập thể cứu chuộc đã khởi sự trong cung lòng trinh khiết của ngài. Với Kinh mân
côi, Dân ki-tô giáo theo học tại ngôi trường của đức Ma-ri-a và được dẫn đến
chiêm ngưỡng vẻ đẹp trên khuôn mặt của Đức Ki-tô và kinh nghiệm chiều sâu thẳm
tình yêu của Người. Qua Kinh mân côi các tín hữu lãnh nhận vô vàn ơn thiêng, hầu
như qua chính đôi tay của Mẹ Đấng Cứu Thế.
Các Giáo hoàng và Kinh mân côi
2. Đông đảo các vị tiền nhiệm của tôi đã gán một tầm quan trọng lớn lao cho lời
kinh này. Đáng đặc biệt ghi nhớ là Đức Giáo hoàng Lê-ô XIII ngày 1.9.1883 đã ban
hành Thông điệp
Supremi Apostolatus Officio,3 một văn kiện rất có giá trị, khởi
đầu của nhiều lời phát biểu của ngài về lời kinh này, trong Thông điệp này, ngài
xem Kinh mân côi như một vũ khí thiêng liêng hữu hiệu chống lại sự dữ đang
phương hại đến xã hội. Trong số các Giáo hoàng mới đây, từ Công đồng Va-ti-ca-nô
II, nổi danh trong việc cổ võ Kinh mân côi, tôi muốn nhắc đến Á thánh Gio-an
XXIII4 và nhất là Đức Giáo hoàn Phao-lô VI, trong Tông huấn Marialis Cultus, đã
nhấn mạnh, theo tinh thần của Công đồng Va-ti-ca-nô II, tính chất tin mừng của
Kinh mân côi và chiều hướng quy ki-tô. Chính tôi cũng đã thường xuyên khuyến
khích năng đọc Kinh mân côi. Từ thuở niên thiếu, lời kinh này đã có một chỗ đứng
quan trọng trong đời sống thiêng liêng của tôi. Tôi đã được gợi nhớ cách mãnh
liệt về điều đó qua chuyến công du mới đây về Ba Lan, và nhất là tại Đền thánh
Kalwaria. Kinh mân côi đã đồng hành với tôi trong những lúc vui sướng và trong
những giai đoạn khó khăn. Tôi đã giao phó cho lời kinh ấy biết bao lo âu; nơi
lời kinh ấy tôi đã luôn tìm được sự nâng đỡ. Cách đây 24 năm, vào ngày
29.10.1978, vừa mới hai tuần sau khi được chọn lên ngôi toà Phê-rô, tôi đã thẳng
thắn thừa nhận: Kinh mân côi là lời kinh tôi ưa thích. Một lời kinh kỳ diệu! Kỳ
diệu qua vẻ đơn sơ và chiều sâu của nó. [...]. Có thể nói rằng Kinh mân côi,
theo một nghĩa nào đó là lời kinh - chú giải chương cuối cùng của Hiến chế
Lumen Gentium của Công đồng Va-ti-ca-nô II, một chương đề cập đến sự hiện
diện đáng thán phục của Mẹ Thiên Chúa trong mầu nhiệm Đức Ki-tô và mầu nhiệm
Giáo hội. Trên bối cảnh lời kinh Ave Maria những biến cố chính trong đời sống
Đức Giê-su Ki-tô diễn ra trước con mắt của linh hồn. Được quy lại thành những
mầu nhiệm vui, thương và mừng, chúng dẫn chúng ta đến thông hiệp cách sống động
với Đức Giê-su qua con tim của Mẹ Người, ta có thể nói thế. Đồng thời con tim
của chúng ta có thể bao gồm trong chục kinh Kính Mừng mọi biến cố của đời sống
cá nhân, gia đình, quốc gia, Giáo hội và toàn thể nhân loại. Mối quan tâm của
riêng ta và của những người thân cận, đặc biệt những người gần gũi nhất của ta,
những người thân thiết nhất của ta. Vì thế lời kinh mân côi đơn sơ ghi dấu ấn
lên nhịp độ của đời sống con người.5
Anh chị em thân mến, với những lời này, tôi đã đặt những năm đầu của triều
giáo hoàng trong nhịp độ hằng ngày của Kinh mân côi. Hôm nay, khi tôi khởi sự
năm thứ 25 phục vụ trong tư cách người kế vị thánh Phê-rô, tôi muốn làm lại
cũng một điều đó. Biết bao nhiêu ơn lành tôi đã lãnh nhận được trong những năm
tháng này từ Đức Thánh Trinh nữ qua Kinh mân côi: Magnificat anima mea
Dominum! Tôi muốn dâng lời cảm tạ lên Chúa bằng những lời kinh của Mẹ rất
thánh của Người, dưới sự che chở của ngài, tôi đã đặt công việc phục vụ giáo
hoàng của tôi: Totus Tuus!
+Gioan Phaolô IITháng 10.2002 -Tháng 10.2003: Năm của Kinh mân côi
3. Vì thế, tiếp nối suy tư của tôi trong Tông Thư
Novo Millennio Ineunte trong đó, sau kinh nghiệm Năm Thánh, tôi đã mời gọi
Dân Thiên Chúa xuất phát lại từ Đức Ki-tô, 6 tôi cảm thấy được thôi thúc đưa ra
một suy tư về Kinh mân côi, như một thứ bổ túc có chiều kích Ma-ri-a cho Tông
thư ấy và một lời khuyên nhủ chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô trong tâm tình
thông hiệp với, và theo trường học của, Mẹ rất thánh Người. Đọc Kinh mân côi
chính là chiêm ngưỡng với Đức Ma-ri-a khuôn mặt Đức Ki-tô. Để làm nổi bật lời
mời gọi này, nhân cơ hội kỷ niệm 120 năm ban hành Thông điệp của Đức Lê-ô XIII
nói trên, tôi ước muốn rằng suốt năm nay, Kinh mân côi sẽ được đặc biệt đề cao
và cổ võ trong các cộng đồng ki-tô giáo khác nhau. Vì thế tôi công bố từ tháng
10 năm 2002 đến tháng 10 năm 2003 là Năm của Kinh mân côi.
Tôi giao phó đề nghị mục vụ này cho sáng kiến của mỗi cộng đoàn Giáo hội. Ý
hướng của tôi không phải là chất thêm gánh nặng nhưng đúng hơn kiện toàn và củng
cố những chương trình mục vụ của các Giáo hội địa phương. Tôi tin tưởng rằng đề
nghị này sẽ được sẵn sàng và quảng đại đón nhận. Nếu được tái khám phá trong ý
nghĩa trọn vẹn của nó, Kinh mân côi đi vào giữa lòng đời sống ki-tô hữu; nó trao
ban một cơ hội quen thuộc nhưng đem nhiều hoa quả thiêng liêng và giáo dục cho
đời sống chiêm ngưỡng cá nhân, đào tạo Dân Thiên Chúa và công cuộc phúc âm hoá
mới. Tôi sung sướng tái khẳng định điều đó khi vui mừng tưởng nhớ một kỷ niệm
khác: kỷ niệm 40 năm khai mạc Công đồng Va-ti-ca-nô II vào ngày 11 tháng 10 năm
1962, hồng ân lớn lao mà Thần Khí Thiên Chúa ban cho Giáo hội thời đại chúng
ta.7
Ý kiến bắt bẻ Kinh mân côi
4. Đề nghị này quả là hợp thời xét từ nhiều lý do. Trước tiên, nhu cầu cấp bách
phải đối diện với một thứ khủng hoảng nào đó của Kinh mân côi, mà trong bối cảnh
lịch sử và thần học hiện tại có nguy cơ bị hạ giá cách sai lầm, và do đó không
còn được dạy cho thế hệ trẻ nữa. Có vài người nghĩ rằng tính cách trung tâm của
phụng vụ, được Công đồng Va-ti-ca-nô II nhấn mạnh cách chính đáng, đương nhiên
dẫn đến việc giảm bớt tầm quan trọng của Kinh mân côi. Vâng, như đức giáo hoàng
Phao-lô VI đã làm sáng tỏ, lời kinh này không những không đối lập với Phụng vụ,
nhưng hỗ trợ, bởi vì nó dẫn nhập rất tốt và làm vang dội lại Phụng vụ, bằng cách
giúp cho dân chúng tham gia trọn vẹn và có chiều sâu, và thu nhận hoa quả của nó
trong đời sống hằng ngày.
Cũng có thể có một vài người e ngại rằng Kinh mân côi một cách nào đó không có
tính đại kết bởi vì tính chất quy hướng rõ ràng về Đức Ma-ri-a của nó. Vâng Kinh
mân côi rõ ràng là một thứ sùng kính dâng lên Mẹ Thiên Chúa mà Công đồng đã mô
tả: một sự sùng kính hướng về trung tâm ki-tô của đức tin ki-tô giáo, đến độ khi
Mẹ được tôn vinh, người Con được hiểu biết đúng đắn, yêu mến và tôn vinh.8 Nếu
được khám phá lại cách đúng đắn, Kinh mân côi là một phương tiện trợ giúp và
chắc chắn không cản trở việc đại kết!
Một lối chiêm ngưỡng
5. Nhưng lý do quan trọng nhất để mạnh mẽ khuyến khích việc thực hành Kinh mân
côi là vì nó là một phương tiện hữu hiệu nhất để cổ võ các tín hữu dấn thân
chiêm ngưỡng mầu nhiệm ki-tô giáo mà tôi đã đề nghi trong Tông Thư
Novo Millennio Ineunte như một sư phạm dạy đường nên thánh đích thực: Điều
cần đến là một đời sống ki-tô hữu lỗi lạc hơn cả về nghệ thuật cầu nguyện.9 Bởi
vì nền văn hoá hiện tại, dù giữa nhiều dấu chỉ mâu thuẫn, đã chứng kiến sự nở rộ
của một lời mời gọi mới mẻ sống chiều kích thiêng liêng, cũng là do ảnh hưởng
của các tôn giáo khác, thì càng khẩn cấp hơn bao giờ hết các cộng đoàn ki-tô
giáo phải trở thành những trường học đích thực của việc cầu nguyện.10
Kinh mân côi thuộc về truyền thống tốt đẹp và đáng ca ngợi nhất của chiêm ngưỡng
ki-tô giáo. Được phát triển bên Tây phương, đó là một hình thức cầu nguyện suy
tư điển hình, tương ứng cách nào đó với lời kinh của con tim hay lời kinh kêu
tên Chúa Giê-su cắm rễ trong mảnh đất ki-tô giáo Đông phương.
Cầu nguyện cho hoà bình và cho gia đình
6. Một số hoàn cảnh lịch sử cũng khiến cho việc phục hồi Kinh mân nên hợp thời.
Trước tiên, nhu cầu nài xin Thiên Chúa ban cho ơn bình an. Kinh mân côi đã được
các vị tiền nhiệm của tôi và chính tôi nhiều lần đề nghị như một lời kinh cầu
cho hoà bình. Vào lúc khởi đầu một ngàn năm mới với biến cố tấn công gây kinh
hãi ngày 11.9.2001, chứng kiến mỗi ngày tại nhiều miền trên thế giới những cảnh
đổ máu và bạc lực, khám phá lại Kinh mân côi có nghĩa là chìm đắm vào việc chiêm
ngưỡng mầu nhiệm Đức Ki-tô Đấng là bình an của chúng ta, bởi vì Người đã liên
kết đôi bên thành một, và phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét (Ep 2,14).
Vì thế, ta không thể đọc Kinh mân côi mà không cảm thấy thôi thúc dấn thân cụ
thể là thúc đẩy hoà bình, đặc biệt tại quê hương Đức Giê-su, đang bị thử thách
nặng nề và đặc biệt gần gũi trong trái tim của mọi ki-tô hữu.
Một nhu cầu dấn thân và cầu nguyện tương tự nảy sinh từ một vấn đề nguy kịch của
thời hiện đại: gia đình, tế bào nguyên thủy của xã hội, càng ngày càng bị đe doạ
bởi những sức mạnh hủy diệt, ở bình diện ý thức hệ lẫn thực hành, làm ta lo sợ
cho tương lai của cơ chế nền tảng và không thể thiếu được này và, cùng với nó,
cho tương lai của toàn thể xã hội. Làm sống lại Kinh mân côi trong các gia đình
ki-tô hữu, trong bối cảnh của một thừa tác vụ mục vụ rộng lớn hơn cho gia đình,
sẽ là một trợ giúp hữu hiệu chống lại những tác động hủy hoại của cơn khủng
hoảng đặc trưng này của thời đại chúng ta.
Này là Mẹ con! (Ga 19,27)
7. Nhiều dấu chỉ cho thấy rằng cả ngày hôm nay nữa Đức Nữ Trinh muốn thể hiện
qua lời kinh này mối quan tâm từ mẫu; người mẹ mà Đấng Cứu chuộc đang hấp hối đã
giao phó, qua con người của người môn đệ yêu dấu, mọi người con cái nam nữ của
Giáo hội: Hỡi Bà, này là con bà! (Ga19,26). Chúng ta biết rõ nhiều dịp trong thế
kỷ 19 và 20, Mẹ Đức Ki-tô đã làm cho ta cảm nhận được sự hiện diện của ngài và
nghe được lời ngài, nhằm khuyến khích Dân Thiên Chúa thực hành hình thức chiêm
ngưỡng này. Tôi muốn đặc biệt kể ra, dựa vào ảnh hưởng lớn lao của chúng trên
đời sống các ki-tô hữu và sự nhìn nhận có thẩm quyền mà chúng đã nhận được từ
Giáo hội, những cuộc hiện ra tại Lộ Đức và Fatima;11 những đền thánh này tiếp
tục được vô số khách hành hương tuôn đến tìm kiếm an ủi và hi vọng.
Bước theo các chứng nhân
8. Sẽ không thể nêu tên tất cả các vị thánh đã khám phá trong Kinh mân côi một
con đường đích thực để tăng trưởng trong sự thánh thiện. Tuy nhiên chúng ta cần
nhắc đến thánh Louis Marie Grignion de Montfort, tác giả của một tác phẩm xuất
sắc về Kinh mân côi,12 và, gần hơn với chúng ta, Cha Pio Pietrelcina, mà tôi vừa
mới có được niềm vui phong thánh. Là một vị tông đồ đích thực của Kinh mân côi,
Chân phước Bartolo Longo đã có một đoàn sủng đặc biệt. Con đường nên thánh của
ngài dựa trên một thần hứng được nghe thấy trong cõi thâm sâu của tâm hồn: Ai
truyền bá Kinh mân côi sẽ được cứu độ!.13 Từ đó, ngài cảm thấy được mời gọi xây
cất một nguyện đường dâng kính Đức Bà mân côi tại Pompei, gần những tàn tích của
thành phố cổ, hầu như đã nghe lời loan báo của Đức Ki-tô trước khi bị chôn vùi
vào năm 79 A.D. trong một lần phun của núi lửa Vesuvius, chỉ vươn dậy từ đống
tro tàn hàng thế kỷ sau như một nhân chứng về ánh sáng và bóng tối của nền văn
minh cổ xưa. Qua công trình của toàn thể cuộc đời và đặc biệt qua việc thực hành
15 ngày thứ Bảy, Bartolo Longo đã cổ võ tâm hồn quy ki-tô và chiêm ngưỡng của
Kinh mân côi, và đã nhận được sự cổ võ và nâng đỡ lớn lao từ Đức Lê-ô XIII, vị
Giáo hoàng của Kinh mân côi.
CHƯƠNG I: CHIÊM NGƯỠNG ĐỨC KI-TÔ CÙNG VỚI
ĐỨC MA-RI-A
Một dung nhan chói lọi như mặt trời
9. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông, và dung nhan Người chói
lọi như mặt trời (Mt 17,2). Trình thuật tin mừng về quang cảnh Đức Ki-tô
biến hình khiến ba Tông đồ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an ngây ngất trước vẻ đẹp
của Đấng Cứu Chuộc, có thể được xem như một hình tượng của chiêm ngưỡng ki-tô
giáo. Nhìn ngắm dung nhan Đức Ki-tô để nhận ra mầu nhiệm giữa các biến cố
thường nhật và các nỗi đau thương của cuộc sống nhân loại của Người, cho đến khi
nhận ra vẻ huy hoàng thần thánh được biểu lộ một cách chung cuộc nơi Đấng Phục
sinh ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang: đó là nhiệm vụ của tất cả các môn đệ
Chúa Ki-tô và vì thế, cũng là nhiệm vụ của mỗi người chúng ta. Khi chiêm ngưỡng
dung nhan Đức Ki-tô, chúng ta sẵn sàng đón nhận mầu nhiệm đời sống Ba Ngôi, để
có kinh nghiệm luôn mới mẻ về tình yêu của Chúa Cha và nếm thưởng niềm vui của
Chúa Thánh Thần. Có thể áp dụng cho chúng ta lời sau đây của thánh tông đồ
Phao-lô: Phản chiếu vinh quang của Chúa, chúng ta được biến đổi nên giống
cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa
là Thần Khí (2 Cr 3,18).
Đức Ma-ri-a, mẫu gương chiêm ngưỡng
10. Việc chiêm ngưỡng Chúa Ki-tô tìm thấy nơi Đức Ma-ri-a một mẫu gương vô song.
Dung nhan của người Con đặc biệt thuộc về Đức Ma-ri-a. Chính trong cung lòng Mẹ
mà Đức Ki-tô được hình thành, đón nhận từ nơi Mẹ một nét giống nhau về phương
diện nhân loại, điều đó gợi lên một sự gần gũi thân mật hơn về mặt thiêng liêng.
Không ai đã say sưa chiêm ngưỡng dung nhan Đức Ki-tô một cách trung thành như
Đức Ma-ri-a. Đôi mắt tâm hồn của Mẹ đã hướng về Người ngay từ lúc Truyền tin,
khi Mẹ cưu mang Người nhờ quyền năng Thánh Thần. Rồi trong những tháng sau đó,
Mẹ bắt đều cảm nhận sự hiện diện của Người và hình dung ra diện mạo của Người.
Cuối cùng, khi hạ sinh Người tại làng Bê-lem, đôi mắt Mẹ đã âu yếm nhìn ngắm
khuôn mặt Con Mẹ, khi Mẹ lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ (Lc 2,7).
Từ đó, đôi mắt chan chứa sự tôn thờ và kinh ngạc của Mẹ không bao giờ rời xa
Người. Có khi là một cái nhìn thắc mắc, như trong trình thuật đi tìm Đức
Giê-su thất lạc trong Đền thờ: Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? (Lc
2,48); nhưng luôn luôn sẽ là một cái nhìn xuyên thấu, một cái nhìn có khả
năng thấu hiểu tâm tư của Đức Giê-su, đến nỗi Mẹ hiểu được những tình cảm sâu
kín của Người và biết trước những quyết định của Người như tại tiệc cưới Ca-na
(x. Ga 2,5). Có khi lại là một cái nhìn đau buồn, đặc biệt khi Mẹ đứng
dưới chân Thánh giá, nơi đó cái nhìn của Mẹ vẫn luôn là cái nhìn của một người
mẹ trao ban sự sống, vì Mẹ không chỉ chia sẻ cuộc khổ nạn và cái chết của Con Mẹ,
nhưng Mẹ cũng còn đón nhận người con mới được trao ban cho Mẹ qua người môn đệ
yêu dấu (x. Ga 19,26-27). Sáng ngày Phục sinh, cái nhìn của Mẹ toả rạng niềm
vui Phục sinh, và sau hết, vào ngày lễ Ngũ tuần, cái nhìn của Mẹ rực cháy
vì được tràn đầy Thánh thần (x. Cv 1,14).
Những kỷ niệm của Đức Ma-ri-a
11. Đức Ma-ri-a sống mà đôi mắt chăm chú nhìn Đức Ki-tô, và mỗi lời của Người
trở thành một kho tàng cho ngài: Mẹ hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ
lại trong lòng (Lc 2,19; x. 2,51). Những kỷ niệm về Đức Giê-su đựợc ghi khắc
trong tim Mẹ, luôn luôn đi theo Mẹ và thúc đẩy Mẹ ngẫm nghĩ về những thời gian
khi sống bên cạnh Con Mẹ. Một cách nào đó, những kỷ niệm ấy là chuỗi kinh mân
côi mà Mẹ không ngừng ngâm nga trong suốt cuộc đời trần thế.
Ngay cả bây giờ, giữa tiếng ca mừng hân hoan trên Giê-ru-sa-lem thiên quốc, các
lý do để Mẹ dâng lời tạ ơn và chúc tụng vẫn không thay đổi. Chúng khiến Mẹ lấy
tình mẫu tử chăm sóc cho Giáo hội lữ hành, trong đó Mẹ tiếp tục kể lại cảm
nghiệm riêng của Mẹ về Tin mừng. Đức Ma-ri-a không ngừng đặt các tín hữu
trước các mầu nhiệm của Con Mẹ, ước mong rằng chúng được chiêm ngưỡng, để
chúng có thể giải toả mọi năng lực cứu độ của chúng. Khi suy ngắm bằng chuỗi mân
côi, cộng đoàn ki-tô hữu tiếp xúc với các kỷ niệm và cái nhìn chiêm ngưỡng của
Đức Ma-ri-a.
Kinh mân côi, một lời kinh chiêm ngưỡng
12. Kinh mân côi, chính bởi vì nó phát xuất từ kinh nghiệm riêng của Đức Ma-ri-a,
là một lời kinh chiêm ngưỡng sâu sắc. Không có chiều kích chiêm ngưỡng ấy, kinh
mân côi sẽ như một cái xác không hồn, như Đức Giáo hoàng Phao-lô VI đã nhấn mạnh:
Không có sự chiêm ngưỡng, kinh mân côi chỉ là một cái xác không hồn, và việc lần
chuỗi có nguy cơ trở nên một việc nhai đi nhai lại một số công thức có tính cách
máy móc, và như thế là vi phạm giáo huấn của Đức Giê-su: Khi cầu nguyện, anh em
đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời (Mt
6,7). Tự bản chất, việc đọc kinh mân côi đòi hỏi một nhịp độ thanh thản và kéo
dài, để giúp mỗi người chiêm ngưỡng các mầu nhiệm trong cuộc đời của Chúa như
được nhìn thấy bằng đôi mắt của Mẹ là người đã sống hết sức gần gũi với Chúa.
Bằng cách đó, sự phong phú khôn ví của các mầu nhiệm được tỏ bày.14
Quả là hữu ích khi dừng lại xem xét các tư tưởng thâm thuý của Đức Phao-lô VI,
để làm sáng tỏ một số khía cạnh của kinh Mân côi, lời kinh này thật sự là một
hình thức chiêm ngưỡng quy hướng về Chúa Ki-tô.
Tưởng nhớ Đức Ki-tô với Mẹ Ma-ri-a
13. Chiêm ngưỡng của Đức Ma-ri-a trước tiên là một tưởng niệm. Chúng ta cần hiểu
từ này theo nghĩa Kinh Thánh của hồi tưởng (zakar): làm cho các kỳ công của
Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu độ nên hiện diện. Kinh Thánh là một sưu
tập các biến cố cứu độ với cao điểm là chính Đức Ki-tô. Những biến cố này không
chỉ liên hệ đến ngày hôm qua; chúng cũng là thành phần của ngày hôm nay của
ơn cứu độ. Việc hiện tại hoá xảy ra trước tiên trong Phụng vụ: điều Thiên
Chúa thực hiện trong các thế kỷ qua không chỉ tác động đến những chứng nhân trực
tiếp của các biến cố đó; nó tiếp tục tác động đến con người của mọi thời đại với
quà tặng ân sủng của nó. Trong một chừng mực nào đó, điều này cũng đúng đối với
mọi tiếp cận đạo đức những biến cố đó: hồi tưởng chúng trong tinh thần đức tin
và tình yêu là mở lòng cho ân sủng mà Đức Ki-tô đoạt được cho chúng ta bằng các
mầu nhiệm sự sống, sự chết và sống lại của Người.
Do đó, trong khi phải tái khẳng định với Công đồng Va-ti-ca-nô II rằng Phụng vụ,
như một thi hành chức vụ tư tế của Đức Ki-tô và một hành vi phụng thờ công cộng,
là tột đỉnh quy hướng mọi hoạt động của Giáo hội và đồng thời là nguồn mạch tuôn
trào mọi năng lực của Giáo hội,15 cũng cần nhắc lại rằng đời sống thiêng liêng
không chỉ dừng lại ở việc tham dự Phụng vụ mà thôi. Người ki-tô hữu được mời gọi
cầu nguyện chung, nhưng cách phải vào phòng riêng âm thầm cầu nguyện cùng Chúa
Cha (x. Mt 6,6); quả thế, như lời vị Tông đồ đã dạy, họ phải cầu nguyện không
ngừng (x. 1Tx 5,17).16 Kinh mân côi, theo cách riêng của nó, là thành phần của
toàn cảnh đa dạng của lời cầu nguyện không ngừng đó. Nếu Phụng vụ, như hoạt động
của Đức Ki-tô và của Giáo hội, là một hành động cứu độ vượt trội, Kinh
mân côi cũng thế, như một suy niệm với Đức Ma-ri-a về Đức Ki-tô, là một chiêm
ngưỡng đem lại ơn cứu độ. Bằng cách nhận chìm chúng ta vào các mầu nhiệm của
đời sống Đấng Cứu chuộc, nó bảo đảm rằng điều Người đã làm và điều mà Phụng vụ
hiện tại hoá cũng thấm nhập sâu xa và uốn nắn đời sống chúng ta.
Học hỏi Đức Ki-tô từ Mẹ Ma-ri-a
14. Đức Ki-tô là vị Thầy tối cao, Đấng mặc khải và là Đấng được mặc khải. Đây
không chỉ là vấn đề học hỏi điều Người đã dạy nhưng là học hỏi chính Người. Theo
viễn tượng ấy, chúng ta có thể có vị thầy nào tốt hơn là Đức Ma-ri-a không? Từ
quan điểm của Thiên Chúa, Thánh Linh là vị Thầy nội tâm dẫn đưa chúng ta đến sự
thật toàn vẹn của Đức Ki-tô (x. Ga 14,26; 15,26; 16,13). Nhưng trong số các tạo
vật, không ai biết rõ hơn Đức Ki-tô bằng Đức Ma-ri-a; không ai có thể dẫn chúng
ta đến một sự hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm của Người hơn là Mẹ của Người.
Dấu lạ đầu tiên mà Đức Ki-tô thực hiện - biến nước thành rượu tại tiệc cưới Ca-na
- rõ ràng giới thiệu Đức Ma-ri-a dưới dáng vẻ của một thầy dạy, khi ngài thúc
giục các đầy tớ làm điều Đức Giê-su chỉ bảo (x. Ga 2,5). Chúng ta có thể tưởng
tượng rằng ngài cũng đã làm như thế đối với các môn đệ sau khi Đức Giê-su lên
trời, khi ngài hiệp cùng với họ mong chờ Chúa Thánh Thần và nâng đỡ họ trong sứ
vụ đầu tiên của họ. Chiêm ngưỡng các cảnh tượng của Kinh mân côi trong sự thông
hiệp với Đức Ma-ri-a là một cách thế học hỏi từ ngài để đọc Đức Ki-tô, để khám
phá các bí ẩn của Người và hiểu sứ điệp của Người.
Trường học này của Đức Ma-ri-a cũng đặc biệt hữu hiệu nếu ta biết rằng ngài dạy
chúng ta bằng cách thu nhận cho chúng ta cách sung mãn những quà tặng của Chúa
Thánh Thần, cho dù ngài ban tặng cho chúng ta gương mẫu không thể sánh ví được
về cuộc hành trình đức tin của riêng ngài.17 Khi chúng ta chiêm ngưỡng mỗi mầu
nhiệm trong cuộc đời của Con ngài, ngài mời gọi chúng ta hành động như ngài đã
làm khi truyền tin: khiêm tốn đặt ra những câu hỏi mở lòng chúng ta ra với ánh
sáng, hầu kết thúc bằng sự vâng phục của đức tin: Này tôi là nữ tì của Chúa; xin
Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói (Lc 1,38).
Được đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô cùng với Mẹ Ma-ri-a
15. Linh đạo ki-tô giáo được phân biệt bởi sự dấn thân của người môn đệ để trở
nên đồng hình đồng dạng ngày càng hoàn hảo hơn với Thầy của mình (x. Rm 8,29; Pl
3,10.12). Việc tuôn đổ Thánh Thần trong bí tích Thánh tẩy tháp nhập người tín
hữu như một cành nho vào thân nho là Đức Ki-tô (x. Ga 15,5) và biến họ thành chi
thể của Thân mình mầu nhiệm Đức Ki-tô (x. 1Cr 12,12; Rm 12,5). Tuy nhiên, sự
hiệp nhất khởi đầu này mời gọi ngày càng nên đồng hình đồng dạng, sự đồng dạng
sẽ dần dần uốn nắn hành vi cử chỉ của người môn đệ cho phù hợp với tâm tình của
Đức Ki-tô: Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô
Giêsu. (Pl 2,5). Nói như thánh Tông đồ, chúng ta được mời gọi mặc lấy Chúa
Giê-su Ki-tô (x. Rm 13,14; Gl 3,27).
Trong cuộc hành trình thiêng liêng của Kinh mân côi, đặt nền tảng trên sự chiêm
ngưỡng liên lỉ khuôn mặt Đức Ki-tô -cùng với Đức Ma-ri-a-, lý tưởng rất đòi hỏi
này là nên đồng hình đồng dạng với Người, được theo đuổi nhờ sự kết giao mà ta
có thể diễn tả bằng từ bằng hữu. Bằng cách ấy, chúng ta có khả năng dễ dàng đi
vào đời sống của Đức Ki-tô và có thể nói là chia sẻ những cảm xúc sâu xa của
Người. Về điểm này, Chân phước Bartolo Longo đã viết: Giống như hai người bạn,
gặp gỡ nhau thường xuyên, có khuynh hướng phát triển những tập quán giống nhau,
cũng vậy, nhờ giao tiếp thân mật với Đức Giê-su và Đức Trinh Nữ, bằng cách suy
niệm các mầu nhiệm của Kinh mân côi và bằng cách kết hiệp trong cùng một cuộc
sống nhờ rước lễ, chúng ta có thể trở nên giống các Ngài, trong mức độ mà sự hèn
mọn của ta cho phép, và có thể học hỏi từ những gương mẫu tối cao đó một cuộc
sống khiêm nhường, nghèo khó, ẩn dật, kiên nhẫn và hoàn hảo.18
Trong tiến trình nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô trong Kinh mân côi, chúng
ta giao phó chính mình một cách đặc biệt cho mối quan tâm từ mẫu của Đức Trinh
Nữ. Ngài vừa là Mẹ của Đức Ki-tô vừa là thành viên Giáo hội, quả vậy một thành
viên trổi vượt và độc nhất vô nhị,19 ngài cũng đồng thời là Mẹ của Giáo hội. Như
thế, ngài tiếp tục sinh hạ những người con cho Thân thể mầu nhiệm của Con ngài.
Ngài thực hiện như thế bằng lời chuyển cầu, khi khẩn cầu Thiên Chúa tuôn đổ vô
hạn Thần Khí trên họ. Đức Ma-ri-a là hình tượng hoàn hảo của tư cách hiền mẫu
của Giáo hội.
Kinh mân côi chuyển đưa chúng ta cách huyền diệu đến bên cạnh Đức Ma-ri-a khi Mẹ
đang bận tâm đến sự tăng trưởng nhân bản của Đức Ki-tô trong ngôi nhà ở
Nazareth. Điều đó giúp Mẹ có khả năng dạy dỗ chúng ta và uốn nắn chúng ta với
cùng một sự chăm sóc, cho tới khi Đức Ki-tô được thành hình trọn vẹn trong chúng
ta (x. Gl 4,19). Vai trò này của Đức Ma-ri-a, hoàn toàn dựa trên vai trò của Đức
Ki-tô và phụ thuộc cách triệt để vào đó, không làm lu mờ hay giảm bớt vai trò
trung gian của Đức Ki-tô, trái lại còn làm sáng tỏ mãnh lực của sự trung gian
ấy.20 Đó là nguyên tắc rõ ràng đã được Công dồng Va-ti-ca-nô II diễn tả mà tôi
đã kinh nghiệm hết sức mãnh liệt trong cuộc đời tôi và đã làm nên cơ sở cho khẩu
hiệu giám mục của tôi: Totus Tuus.21 Lẽ dĩ nhên khẩu hiệu được gợi hứng
từ lời dạy của thánh Louis Marie Grignion de Montfort, ngài đã giải thích bằng
những lời sau đây về vai trò của Đức Ma-ri-a trong tiến trình đồng hình đồng
dạng của chúng ta với Đức Ki-tô: Tất cả sự hoàn thiện của chúng ta hệ tại ở
việc nên đồng hình đồng dạng, kết hiệp và hiến thánh cho Đức Giê-su Ki-tô.
Vì thế tính cách hoàn hảo nhất của mọi việc đạo đức không nghi ngờ gì nữa là
biến đổi, kết hiệp và hiến thánh chúng ta cách hoàn hảo nhất cho Đức Giê-su
Ki-tô. Vậy, bởi vì Đức Ma-ri-a là một trong các tạo vật nên đồng hình đồng dạng
nhất với Đức Giê-su Ki-tô, hệ quả là trong số các việc đạo đức, lòng sùng kính
Đức Ma-ri-a, Mẹ thánh thiện của Người, là việc đạo đức hiến thánh và làm cho một
linh hồn nên đồng hình đồng dạng với Chúa hơn cả, và một linh hồn càng hiến
thánh cho Mẹ sẽ càng được hiến thánh cho Đức Giê-su Ki-tô.22 Không nơi nào bằng
Kinh mân côi, cuộc sống của Đức Giê-su và của Đức Ma-ri-a xuất hiện liên kết sâu
xa như thế. Đức Ma-ri-a chỉ sống trong Đức Ki-tô và cho Đức Ki-tô!
Cầu nguyện với Đức Ki-tô cùng với Mẹ Ma-ri-a
16. Đức Giê-su đã mời gọi chúng ta hướng về Thiên Chúa với lòng tin tưởng và
kiên trì để được nhậm lời: Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ
cửa thì sẽ được mở cho (Mt 7,7). Nền tảng của sức mạnh của lời cầu nguyện này là
lòng tốt của Chúa Cha, nhưng cũng là sự trung gian của chính Đức Ki-tô (x. 1 Ga
2,1) và hành động của Chúa Thánh Thần Đấng khẩn cầu cho chúng ta theo như ý của
Thiên Chúa (x. Rm 8,26-27). Vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải (Rm
8,26), và đồng thời chúng ta không được nhậm lời vì chúng ta xin sai (x. Gc
4,2-3).
Để hỗ trợ lời kinh mà Đức Ki-tô và Chúa Thánh Thần gợi lên trong lòng chúng ta,
Đức Ma-ri-a can thiệp bằng lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ. Lời cầu nguyện của Giáo
hội được đỡ nâng nhờ lời cầu nguyện của Đức Ma-ri-a.23 Nếu Đức Giê-su, Đấng
Trung gian duy nhất, là Con Đường cho lời cầu nguyện của chúng ta, thì Đức Ma-ri-a,
phản ánh tinh tuyền và trong sáng nhất của Người, tỏ cho chúng ta Con Đường.
Chính từ sự cộng tác duy nhất của Đức Ma-ri-a với công việc của Chúa Thánh Thần,
mà các Giáo hội đã triểm khai lời kinh dâng lên Mẹ thánh thiện của Thiên Chúa,
bằng cách tập trung vào con người Đức Ki-tô được biểu lộ qua các mầu nhiệm.24
Tại tiệc cưới Ca-na sách Tin mừng đã tỏ lộ rõ ràng quyền lực của lời chuyển cầu
Đức Ma-ri-a khi ngào báo cho Đức Giê-su biết nhu cầu của người khác: Họ hết ]ợu
rồi (Ga 2,3).
Kinh mân côi đồng thời là suy niệm và khẩn cầu. Lời kinh khẩn nài Mẹ Thiên Chúa
được đặt nền trên sự tin tưởng: tin rằng lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ có thể
giành được mọi sự từ trái tim của Con ngài. Mẹ rất quyền năng bởi ân sủng, để sử
dụng lối diễn tả táo bạo, nhưng cần hiểu cho đúng đắn, của Chân phước Bartolo
Longo trong bài Thỉnh cầu Đức Bà.25 Đó là một xác tín, phát xuất từ Tin
mừng, đã tăng trưởng càng ngày càng vững chắc trong kinh nghiệm của Dân ki-tô
giáo. Thi sĩ thượng thặng Dante diễn tả cách tuyệt diệu qua các vần thơ được
thánh Bê-na-đô hát lên: Lạy Đức Bà, Bà thật vĩ đại và đầy quyền năng, ai ước
muốn có ân huệ mà không đến với ngài, thì người ấy muốn ước vọng của mình bay
lên mà không có cánh.26 Khi trong Kinh mân côi chúng ta van nài Đức Ma-ri-a, đền
thánh của Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,35), ngài chuyển cầu cho chúng ta trước mặt
Chúa Cha, Đấng tuôn đổ hồng ân xuống trên ngài, và trước mặt người Con sinh ra
từ cung lòng Mẹ, bằng cách cầu nguyện với chúng ta và cho chúng ta.
Loan báo Đức Ki-tô cùng với Đức Ma-ri-a
17. Kinh mân côi cũng là một con đường loan báo và hiểu biết ngày một hơn,
trong đó mầu nhiệm của Đức Ki-tô được trình bày đi, trình bày lại ở nhiều mức độ
khác nhau của kinh nghiệm ki-tô giáo. Đó là một trình bày mang tính cầu nguyện
và chiêm ngưỡng, có khả năng đào tạo người ki-tô hữu theo trái tim của Đức Ki-tô.
Khi việc đọc Kinh mân côi kết hợp với tất cả mọi yếu tố cần thiết cho một cuộc
suy niệm có hiệu quả, đặc biệt trong những cuộc cử hành chung tại giáo xứ và các
đền thánh, đó có thể là một cơ hội để dạy giáo lý mà các vị mục tử phải
biết cách khai thác. Cả theo cách thức ấy nữa, Đức Bà Mân côi tiếp tục công
trình loan báo Đức Ki-tô. Lịch sử Kinh mân côi tỏ cho biết lời kinh này đã được
các cha dòng Đa Minh sử dụng như thế nào vào một thời buổi khó khăn của Giáo hội
do bởi sự lan rộng của lạc giáo. Ngày hôm nay chúng ta đang đối diện với những
thách đố mới. Tại sao một lần nữa chúng ta không chạy đến Kinh mân côi, với cùng
một đức tin như những người đã đi trước chúng ta? Kinh mân côi vẫn giữ được sức
mạnh của nó và tiếp tục là một tài nguyên mục vụ có giá trị cho mọi người loan
báo tin mừng tốt.
CHƯƠNG II
CÁC MẦU NHIỆM CỦA ĐỨC KI-TÔ -
CÁC MẦU NHIỆM CỦA MẸ NGƯỜI
Kinh Mân côi, "một bản tóm tắt Tin mừng"
18. Cách thức duy nhất để tiến tới việc chiêm ngưỡng dung nhan Đức Ki-tô là lắng
nghe tiếng nói của Chúa Cha trong Thánh Thần, vì "không ai biết rõ người Con trừ
Chúa Cha" (Mt 11,27). Tại địa hạt Xê-da-rê Phi-lip, Đức Giê-su đã đáp lại lời
tuyên tín của Phê-rô bằng cách chỉ cho ông thấy nguồn gốc của trực giác rõ ràng
về căn tính của Người: "Không phải phàm nhân mạc khải cho anh biết điều ấy,
nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 16,17). Như vậy, cần có một mạc
khải từ trên. Để đón nhận mặc khải ấy, nhất thiết phải chăm chú lắng nghe: "Chỉ
có kinh nghiệm về sự thinh lặng và cầu nguyện mới tạo ra môi trường thích
hợp để cho sự hiểu biết đích thực, trung tín và vững chắc về mầu nhiệm đó được
tăng trưởng và phát triển". 27
Kinh Mân côi là một trong những con đường truyền thống của lời cầu nguyện ki-tô
giáo hướng đến việc chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Ki-tô. Đức Giáo hoàng Phao-lô VI
mô tả điều đó bằng những lời sau đây: "Vì là một lời kinh dựa theo Tin mừng, tập
trung vào mầu nhiệm Nhập thể cứu độ, kinh mân côi là lời kinh mang chiều kích
ki-tô một cách rõ nét. Thật thế, yếu tố đặc trưng nhất của kinh mân côi - việc
lặp đi lặp lại Kinh kính mừng - là một lời ca ngợi không ngừng dâng lên Đức
Ki-tô, Đấng là đối tượng tối hậu của cả lời truyền tin của Thiên thần, lẫn lời
chúc mừng của mẹ thánh Gio-an Tẩ Giả: "Phúc thay hoa quả của lòng Bà" (Lc 1,42).
Chúng ta có thể đi xa hơn và nói thêm rằng chuỗi kinh Kính mừng làm thành khung
cửi trên đó đan dệt việc chiêm ngưỡng các mầu nhiệm. Đức Giê-su mà mỗi kinh Kính
mừng gợi nhớ cũng là Đức Giê-su mà các mầu nhiệm tiếp nối nhau đề nghị cho chúng
ta tuần tự như là Con Thiên Chúa, như là Con của Đức Trinh Nữ". 28
1) Đề nghị bổ sung vào hình thức truyền thống
19. Trong số các mầu nhiệm của cuộc đời Đức Giê-su, chỉ một ít mầu nhiệm được
suy ngắm qua lời kinh mân côi trong hình thức phổ biến được Giáo hội phê chuẩn.
Việc chọn lựa được xác định bởi nguồn gốc của lời kinh, đặt nền tảng trên con số
150, con số thánh vịnh trong tập Thánh vịnh.
Thế nhưng, để làm cho kinh Mân côi có chiều kích ki-tô học thâm sâu hơn, tôi
nghĩ rằng ta cần bổ sung thêm vào hình thức truyền thống, trong khi vẫn để cho
mỗi người và cộng đoàn tự do, để có thể suy gẫm các mầu nhiệm trong cuộc đời
công khai của Đức Ki-tô từ khi Người lãnh nhận Phép rửa cho đến cuộc Khổ nạn.
Chính trong khung cảnh của các mầu nhiệm ấy mà chúng ta chiêm ngưỡng các khía
cạnh quan trọng nơi con người Đức Ki-tô như là mạc khải chung cuộc của Thiên
Chúa. Được Chúa Cha tuyên bố là Con Yêu dấu trong biến cố Phép Rửa tại sông
Gióc-đan, Đức Ki-tô là Đấng loan báo Nước Trời đang đến, làm chứng cho Nước Trời
bằng những việc làm của Người và công bố những đòi hỏi của Nước Trời. Chính qua
những năm tháng hoạt động công khai mà mầu nhiệm Đức Ki-tô tỏ ra môt cách
hiển nhiên là mầu nhiệm ánh sáng: "Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh
sáng thế gian" (Ga 9,5).
Bởi thế, để cho kinh Mân côi trở thành "bản tóm lược Tin mừng" một cách đầy đủ
hơn, ta phải bổ sung, tiếp sau phần suy ngắm về mầu nhiệm Nhập thể và cuộc đời
ẩn dật của Đức Ki-tô (các sự Vui), và trước khi suy ngắm về các nỗi thống
khổ trong cuộc Khổ nạn của Người (các sự Thương) và cuộc vinh thắng Phục
sinh (các sự Mừng), thêm phần suy ngắm về các biến cố hết sức quan trọng
trong sứ vụ công khai của Đức Ki-tô (các mầu nhiệm ánh sáng). Việc bổ
sung thêm những mầu nhiệm mới này, không hề làm phương hại đến khía cạnh chính
yếu nào của hình thức cầu nguyện truyền thống, trái lại có mục đích làm cho hình
thức cầu nguyện đó có một sức sống tươi mới và khơi dậy một sự quan tâm mới về
chỗ đứng của kinh mân côi trong đời sống thiêng liêng của người ki-tô hữu như
một con đường đúng đắn để đi vào Trái tim của Đức Ki-tô, đại dương của niềm vui
và ánh sáng, đau khổ và vinh quang.
2) Các mầu nhiệm vui
20. Năm mươi kinh mân côi đầu tiên, "năm sự vui", mang dấu ấn của niềm vui
toả chiếu từ biến cố Nhập thể. Điều này quả là rõ ràng ngay từ mầu nhiệm đầu
tiên, biến cố Truyền tin, nơi đó lời sứ thần Ga-bri-en chào Trinh nữ làng Na-da-rét
nối liền với lời mời gọi vui hưởng niềm vui thiên sai: "Mừng vui lên, hỡi bà Ma-ri-a".
Toàn thể lịch sử cứu độ, theo một nghĩa nào đó, toàn thể lịch sử thế giới quy về
lời chào đó. Nếu kế hoạch của Chúa Cha là quy tụ mọi sự trong Đức Ki-tô (x. Ep
1,10), thì một cách nào đó, toàn thể vũ trụ cũng được tác động bởi ân huệ thần
linh, với ơn huệ đó Chúa Cha đoái nhìn Đức Ma-ri-a và biến ngài thành Thân mẫu
của Con Người. Đến lượt mình, toàn thể nhân loại như được bao bọc trong lời "Xin
vâng", qua đó Mẹ sẵn lòng chấp thuận Thánh ý Thiên Chúa.
Niềm vui là nét chính yếu trong cuộc hội ngộ với bà chị Ê-li-da-bét, nơi đó
tiếng nói của Đức Ma-ri-a và sự hiện diện của Đức Ki-tô trong cung lòng Mẹ đã
khiến cho Gio-an "nhảy lên vui sướng" (x. Lc 1,44). Niềm vui cũng tràn ngập hoạt
cảnh tại Bê-lem, khi sinh nhật của Hài nhi thánh, Đấng Cứu độ trần gian, được
loan tin qua tiếng hát của các thiên thần và được loan báo cho các mục đồng như
là "tin của một niềm vui lớn" (Lc 2,10).
Hai mầu nhiệm sau cùng, tuy vẫn duy trì bầu khí vui mừng, nhưng đã hướng đến bi
kịch sắp đến. Trình thuật Dâng Chúa Giê-su trong Đền thánh không chỉ biểu lộ
niềm vui vì Hài nhi được thánh hiến và sự xuất thần của cụ Xi-mê-ông, nhưng còn
ghi lại lời tiên báo Đức Ki-tô sẽ trở nên một "dấu hiệu chống báng" cho dân
Ít-ra-en và một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn Mẹ (x Lc 2,34-35). Niềm vui xen lẫn
với bi kịch ấn dấu trên mầu nhiệm thứ năm, tìm thấy Đức Giê-su trong Đền thánh,
khi Người lên 12 tuổi. Tại nơi đây, Người đã tỏ ra như Đấng "dạy dỗ" với sự khôn
ngoan thần linh khi Người lắng nghe và đặt câu hỏi. Sự mạc khải về mầu nhiệm của
Người, trong tư cách là người Con hiến thân trọn vẹn cho công việc của Chúa Cha,
cho thấy tính triệt để của Tin mừng, ngay cả tương quan nhân loại thân thiết
nhất cũng cũng bị thách thức bởi những đòi hỏi tuyệt đối của Nước Thiên Chúa.
Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se, sợ hãi và lo âu, "không hiểu" lời Người (Lc 2:50).
Như vậy, suy ngắm các mầu nhiệm "năm sự vui" là đi vào các động cơ tối hậu và ý
nghĩa thâm sâu của niềm vui ki-tô giáo. Đó là tập trung vào thực tại của mầu
nhiệp Nhập thể và điềm báo khó hiểu của mầu nhiệm Khổ nạn cứu độ. Đức Ma-ri-a
đẫn dắt chúng ta khám phá bí mật của niềm vui ki-tô giáo, khi nhắc nhở chúng ta
rằng Ki-tô giáo tiên vàn là euangelion, "Tin mừng", mà trung tâm và toàn bộ nội
dung của Tin mừng là con người Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời mặc lấy xác phàm, Đấng
Cứu độ duy nhất của thế giới.
3) Các Mầu nhiệm Ánh sáng
21. Đi từ cuộc đời thơ ấu và ẩn dật tại làng Na-da-rét đến cuộc đời công khai
của Đức Giê-su, việc chiêm ngưỡng dẫn chúng ta đến những mầu nhiệm có thể được
gọi một cách đặc biệt là "các mầu nhiệm ánh sáng". Dĩ nhiên, toàn thể các mầu
nhiệm Đức Ki-tô là một mầu nhiệm ánh sáng. Người là "ánh sáng thế gian" (Ga
8,12). Tuy nhiên, chân lý này tỏ hiện một cách đặc biệt qua những năm tháng của
cuộc đời công khai, khi Người công bố Tin mừng Nước Thiên Chúa. Để đề nghị cho
cộng đoàn ki-tô hữu năm thời điểm quan trọng - các mầu nhiệm "chói sáng" - trong
giai đoạn này của cuộc đời Đức Ki-tô, tôi nghĩ nên chọn ra những mầu nhiệm sau
đây: (1) Người chịu phép rửa tại sông Gióc-đan (2) Người tỏ mình tại tiệc cưới
Ca-na (3) Người công bố Nước Thiên Chúa và kêu mời sám hối (4) Hiển Dung, và
cuối cùng (5) Người thiết lập Bí tích Thánh thể như là một biểu hiện có tính bí
tích của Mầu nhiệm Vượt qua.
Mỗi mầu nhiệm trên là một mạc khải về Nước Thiên Chúa đang hiện diện trong
chính bản thân Đức Giê-su. Phép rửa tại sông Gióc-đan tiên vàn là một mầu
nhiệm ánh sáng. Tại đây, khi Người bước xuống sông Gióc-đan, Đấng vô tội đã trở
thành "tội" vì chúng ta (x. 2 Cr 5,21), thì cửa trời rộng mở và có tiếng Chúa
Cha tuyên nhận Người là Con yêu dấu (x. Mt 3,17 và song song), trong khi đó,
Thánh Thần ngự xuống trên Người và trao cho Người sứ mạng mà Người phải thi hành.
Một mầu nhiệm ánh sáng khác là dấu chỉ đầu tiên tại Ca-na (x. Ga 2,1- 12), khi
Người biến nước thành rượu và mở rộng tâm hồn các môn đệ để đón nhận đức tin,
nhờ sự can thiệp của Đức Ma-ri-a, người tín hữu đầu tiên. Một mầu nhiệm ánh sáng
khác là lời giảng dạy, qua đó Đức Giê-su loan báo Nước Thiên Chúa đang đến, kêu
mời sám hối (x. Mc 1,15) và tha thứ tội lỗi cho tất cả những ai đến với Người
trong tâm tình tin tưởng khiêm hạ (x. Mc 2,3-13; Lc 7,47-48): đó là khởi đầu của
tác vụ bày tỏ lòng thương xót mà Người tiếp tục thi hành cho đến ngày tận thế,
nhất là qua Bí tích Hoà giải mà Người uỷ thác cho Giáo hội (x. Ga 20,22-23). Mầu
nhiệm ánh sáng trổi vượt hơn cả là biến cố Hiển dung, mà truyền thống tin là đã
xảy ra trên núi Ta-bo. Vinh quang Thiên Chúa chói ngời trên dung nhan Đức Ki-tô
trong khi Chúa Cha truyền lệnh cho các tông đồ đang kinh hãi phải "nghe lời
Người" (x. Lc 9,35 và song song) và chuẩn bị cho họ cùng với Người kinh nghiệm
nỗi thống khổ trong cuộc Khổ nạn, để đến với Người trong niềm vui phục sinh và
trong cuộc sống được biến hình nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Mầu nhiệm ánh
sáng cuối cùng là việc thiết lập bí tích Thánh thể, qua đó Đức Ki-tô trao ban
mình và máu Người dưới hình bánh và rượu, và khẳng định Người yêu thương nhân
loại "cho đến cùng" (Ga 13,1), Người sẽ hi sinh hiến mình để cứu chuộc nhân loại.
Trong các mầu nhiệm này, ngoại trừ phép lạ Ca-na, sự hiện diện của Đức Ma-ri-a
là ở hậu cảnh. Các sách Tin mừng chỉ nhắc đến sự hiện hiện tình cờ của Đức
Ma-ri-a lúc này lúc nọ trong cuộc đời rao giảng của Đức Giê-su (x. Mc 3,31-35;
Ga 2,12), và không đưa ra chỉ dẫn nào cho thấy Mẹ hiện diện trong Bữa Tiệc Ly
hay trong thời điểm thiết lập bí tích Thánh Thể. Tuy nhiên, vai trò Mẹ đảm nhận
trong tiệc cưới Ca-na cách nào đó đã đồng hành với Đức Ki-tô suốt sứ vụ của
Người. Mặc khải do Chúa Cha ban trực tiếp trong biến cố Phép rửa tại sông
Gióc-đan và được Gio-an Tẩy giả làm vang vọng, được đặt trên môi miệng của Đức
Ma-ri-a tại tiệc cưới Ca-na, và nó trở thành lời khuyên từ mẫu quan trọng nhất
mà Đức Ma-ri-a gởi đến Giáo hội ở mọi thời đại: "Hãy làm điều Người dạy bảo" (Ga
2,5). Lời khuyên này là một lời giới thiệu rất thích hợp về những lời và dấu chỉ
trong sứ vụ công khai của Đức Ki-tô và hình thành nền tảng có chiều kích Ma-ri-a
của một "mầu nhiệm ánh sáng".
4) Các Mầu nhiệm thương
22. Các sách Tin mừng đặt để một tầm quan trọng lớn cho các mầu nhiệm thương khó
của Đức Ki-tô. Từ khởi đầu, lòng đạo đức ki-tô giáo, đặc biệt trong mùa Chay qua
việc thực hành Đường Thánh giá, đã dừng lại ở mỗi giai đoạn của cuộc khổ nạn,
nhận thức rằng cao điểm của mặc khải về tình yêu Thiên Chúa và nguồn mạch
ơn cứu độ được tìm thấy nơi đó. Kinh mân côi chọn lựa một vài giai đoạn của cuộc
khổ nạn, để mời gọi các tín hữu chiêm ngưỡng trong tâm hồn và sống lại thời điểm
ấy. Giòng suy niệm mở đầu với biến cố vườn Cây dầu, nơi đó Đức Ki-tô kinh nghiệm
sự sầu não khi đối diện với thánh ý Thiên Chúa, khi mà tính yếu đuối của xác
thịt bị cám dỗ muốn chống lại. Nơi đó Đức Giê-su gặp phải mọi cơn cám dỗ và đối
diện với mọi thứ tội của nhân loại, để thốt lên với Chúa Cha: "Xin đừng theo ý
con, nhưng xin theo ý Cha" (Lc 22,42 và song song). Tiếng "Xin vâng" của Đức
Ki-tô đối lại với tiếng "Không" của tổ tiên chúng ta trong vườn Địa đàng. Và cái
giá của sự trung thành với thánh ý Chúa Cha tỏ lộ trong các mầu nhiệm tiếp theo;
qua việc đánh đòn, đội mão gai, vác thập giá và chết trên thập giá, Chúa đã bị
gục ngã trong những đau khổ hèn hạ nhất: Ecce homo!
Sự đau khổ hèn hạ đó mặc khải không những tình yêu Thiên Chúa nhưng còn ý nghĩa
của chính con người nữa.
Ecce homo: ý nghĩa, nguồn gốc và sự hoàn thành của con người được tìm
thấy trong Đức Ki-tô, vị Thiên Chúa vì yêu thương đã hạ mình "cho đến chết, chết
trên thập giá" (Pl 2,8). Các sự thương giúp người tín hữu sống lại cái chết của
Đức Giê-su, đứng dưới chân Thánh giá bên cạnh Đức Ma-ri-a, cùng với Mẹ tiến vào
chiều sâu thẳm của tình yêu Thiên Chúa đối với loài người và kinh nghiệm năng
lực trao ban sự sống của nó.
5) Các Mầu nhiệm mừng
23. "Việc chiêm ngưỡng dung nhan của Đức Ki-tô không thể dừng lại ở hình ảnh của
Đấng chịu đóng đinh. Người là Đấng đã sống lại!"29 Kinh mân côi đã luôn diễn tả
sự hiểu biết phát sinh từ đức tin này và mời gọi người tín hữu vượt lên trên
bóng tối của cuộc khổ nạn để chiêm ngắm vinh quang của Đức Ki-tô trong mầu nhiệm
sống lại và lên trời. Khi chiêm ngưỡng Đấng phục sinh, người ki-tô hữu tái khám
phá lý do của niềm tin (x. 1 Cr 15,14) và sống lại niềm vui không chỉ của
những người được Đức Ki-tô hiện ra -Các Tông đồ, Bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na và các
môn đệ trên đường về làng Em-mau- nhưng cả niềm vui của Đức Ma-ri-a nữa, đấng đã
có một kinh nghiệm không kém mãnh liệt về đời sống mới của người Con vinh quang
của ngài. Trong mầu nhiệm lên trời, Đức Ki-tô đã được nâng lên ngự bên hữu Chúa
Cha trong vinh quang, trong khi chính Đức Ma-ri-a sẽ được nâng lên trong cùng
một vinh quang ấy qua biến cố mông triệu, để hưởng trước, do bởi một đặc ân duy
nhất, định mệnh được dành cho mọi người công chính khi sống lại từ cõi chết. Đội
mão triều thiên trong vinh quang - như Mẹ xuất hiện trong mầu nhiệm vinh quang
cuối cùng - Đức Ma-ri-a toả sáng như Nữ hoàng của các Thiên thần và các Thánh,
sự hưởng trước và sự thực hiện hoàn hảo nhất của trạng thái cánh chung của Giáo
hội.
Ở trung tâm của chuỗi biến cố vinh quang của người Con và người Mẹ, Kinh mân côi
đặt trước chúng ta mầu nhiệm vinh quang thứ ba, lễ Hiện xuống, nó tỏ lộ khuôn
mặt của Giáo hội như một gia đình tụ họp cùng với Đức Ma-ri-a, tràn đầy sức sống
nhờ sự tuôn đổ sức mạnh của Thần Khí và sẵn sàng chu toàn sứ vụ truyền giáo.
Việc chiêm ngưỡng hoạt cảnh này, cũng như các sự mừng khác, phải dẫn đưa các tín
hữu đến việc quý trọng hơn nữa đời sống mới trong Đức Ki-tô, được sống trong
lòng Giáo hội, một đời sống mà hoạt cảnh Hiện xuống là "hình tượng" tuyệt vời
nhất. Vì thế, các sự mừng dẫn đưa các tín hữu đến niềm hi vọng mạnh mẽ hơn về
mục tiêu cánh chung, họ hành trình tiến về đó như thành viên của Dân Thiên Chúa
đang lữ hành trong lịch sử. Điều đó không thể không thúc đẩy họ can đảm làm
chứng về "Tin mừng" đã đem lại ý nghĩa cho toàn thể cuộc đời họ.
6) Từ "các mầu nhiệm" đến "Mầu nhiệm": con đường của Đức Ma-ri-a
24. Chu kỳ suy niệm mà Kinh rất thánh mân côi đề nghị không thể nào bao gồm hết
mọi khía cạnh, nhưng nó nhắc lại những điều cốt yếu và gợi lên trong linh hồn
một sự khao khát Đức Ki-tô luôn được nuôi dưỡng từ nguồn mạch tinh trong của Tin
mừng. Mọi biến cố riêng lẻ trong cuộc đời Đức Ki-tô, như được các tác giả sách
Tin mừng tường thuật lại, đều chói lọi với Mầu nhiệm vượt quá mọi hiểu biết (x.
Ep 3,19): Mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, nơi Người "tất cả sự viên mãn của thần
tính hiện diện cách cụ thể" (Cl 2,9). Vì lý do ấy, sách Giáo lý của Giáo hội
Công giáo nhấn mạnh nhiều đến các mầu nhiệm Đức Ki-tô, khi nhắc lại rằng "mọi
sự trong cuộc đời Đức Giê-su đều là dấu chỉ của Mầu nhiệm của Người".30 Việc
"chèo ra chỗ sâu" của Giáo hội của ngàn năm thứ ba sẽ được đánh giá bởi khả
năng của người ki-tô-hữu tiến vào "sự thông hiểu phong phú và đầy đủ, khiến họ
nhận biết mầu nhiệm của Thiên Chúa, tức là Đức Kitô, trong Người có cất giấu mọi
kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết" (Cl 2,2-3). Thư gởi tín hữu Ê-phê-sô
dâng lời cầu nguyện chân thành này cho mọi người chịu phép Thánh Tẩy: "Xin cho
anh em, nhờ lòng tin, được Đức Kitô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén
rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể các thánh, anh em đủ
sức
nhận biết tình thương của Đức Kitô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết.
Như vậy anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa" (3,17-19).
Kinh mân côi nhắm phục vụ lý tưởng ấy; nó trao ban "bí mật" dễ dàng dẫn đến một
sự hiểu biết sâu xa và nội tâm về Đức Ki-tô. Chúng ta có thể gọi đó là con
đường của Đức Ma-ri-a. Đó là con đường của mẫu gương Đức Nữ Trinh Na-da-rét,
một người phụ nữ của lòng tin, của thinh lặng, của lắng nghe chăm chú. Đó cũng
là con đường của lòng sùng kính Đức Ma-ri-a, được khiến hứng bởi sự hiểu biết về
mối giây không thể phân ly giữa Đức Ki-tô và Mẹ thánh Người: các mầu nhiệm
của Đức Ki-tô theo một nghĩa nào đó cũng là các mầu nhiệm của Mẹ Người, ngay
cả khi chúng không dính dáng Mẹ cách trực tiếp, bởi vì Mẹ sống bởi Người và qua
Người. Khi xem những lời của Thiên thần Ga-bri-en và Bà Ê-li-sa-bét trong
Kinh Kính mừng như của chúng ta, chúng ta cảm thấy luôn bị lôi kéo tìm kiếm
cách luôn mới mẻ nơi Đức Ma-ri-a, trong vòng tay và trong con tim của Mẹ, "hoa
quả được chúc phúc của lòng Bà" (x Lc 1,42).
7) Mầu nhiệm của Đức Ki-tô, mầu nhiệm của con người
25. Trong chứng từ của tôi năm 1978 được nhắc lại ở trên, khi tôi nói Kinh mân
côi là lời kinh ưa thích của tôi, tôi đã sử dụng một ý mà tôi muốn đề cập lại.
Tôi đã nói rằng "lời kinh đơn sơ của Kinh mân côi đánh dấu nhịp độ của đời sống
con người".31
Dưới ánh sáng của những suy tư cho tới nay về các mầu nhiệm của Đức Ki-tô, đi
sâu vào ý nghĩa nhân học của Kinh mân côi thì không phải là điều khó, nó sâu xa
hơn cái dáng vẻ thấy lần đầu. Bất cứ ai chiêm ngưỡng Đức Ki-tô qua những giai
đoạn khác nhau của cuộc đời Người không thể không nhận ra trong Người chân lý về
con người. Đó là khẳng định quan trọng của Công đồng Va-ti-ca-nô II mà tôi
thường bàn luận trong các giáo huấn của tôi kể từ Thông điệp
Redemptor
Hominis : "chỉ trong mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập thể mà mầu nhiệm của con
người được xem thấy trong ánh sáng đích thực của nó".32 Kinh mân côi giúp hướng
mở con đường về ánh sáng này. Khi đi theo con đường của Đức Ki-tô, con đường của
con người được "tóm kết", 33 mặc khải và cứu chuộc trong Người, người tín hữu đi
đến việc trực diện với hình ảnh của con người đích thực. Chiêm ngưỡng việc Đức
Ki-tô hạ sinh, họ học biết tính cách thánh thiêng của sự sống; khi nhìn vào gia
đình Na-da-rét, họ học biết chân lý nguyên thủy của gia đình theo như kế hoạch
của Thiên Chúa; khi lắng nghe Thầy trong các mầu nhiệm của sứ vụ công khai, họ
tìm thấy ánh sáng dẫn đưa họ vào Nước Trời; và khi bước theo Người tiến đến Núi
Sọ, họ học biết ý nghĩa của đau khổ đem lại ơn cứu độ. Cuối cùng, chiêm ngưỡng
Đức Ki-tô và Mẹ rất thánh Người trong vinh quang, họ thấy được cùng đích mà mỗi
người trong chúng ta được mời gọi hướng về, nếu chúng ta để cho Chúa Thánh Thần
chữa trị và biến đổi chúng ta. Ta có thể nói rằng mỗi mầu nhiệm của Kinh mân côi,
một khi được suy niệm thấu đáo, chiếu toả ánh sáng trên mầu nhiệm của con người.
Đồng thời, sẽ là việc tự nhiên khi ta mang theo, trong cuộc gặp gỡ này với nhân
tính thánh thiện của Đấng Cứu chuộc, mọi vấn đề, lo lắng, lao công và nỗ lực dệt
nên cuộc sống chúng ta. "Hãy trút mọi gánh lo vào tay Chúa và Người sẽ đỡ đần
cho" (Tv 55,23). Cầu nguyện bằng Kinh mân côi là trút bỏ mọi gánh nặng của chúng
ta vào trong trái tim thương xót của Đức Ki-tô và Mẹ Người. Sau 25 năm, khi nhìn
lại các khó khăn gặp phải khi thi hành chức vụ giáo hoàng, tôi cảm thấy cần phải
nói thêm, như một lời mời gọi nồng nhiệt gởi đến mọi người để họ đích thân cảm
nghiệm: quả thực Kinh mân côi "đánh dấu nhịp sống của con người", khi làm cho nó
hoà hợp với "nhịp sống" của Thiên Chúa, trong sự thông hiệp hân hoan với Thiên
Chúa Ba Ngôi, định mệnh của cuộc sống chúng ta và khát vọng sâu xa nhất.
Chương III
"Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô"
Kinh mân côi, một cách đồng hoá với mầu nhiệm
26. Việc suy ngắm các mầu nhiệm Đức Ki-tô trong Kinh mân côi được thực hiện bằng
một phương pháp được lập ra để giúp ta đồng hoá với mầu nhiệm. Đó là phương pháp
dựa trên việc lặp đi lặp lại. Việc lặp đi lặp lại trước tiên được áp dụng cho
Kinh kính mừng, được lặp lại 10 lần trong mỗi mầu nhiệm. Nếu lời kinh này được
lặp đi lặp lại một cách hời hợt, chắc hẳn người ta sẽ có cám dỗ xem kinh mân côi
như một việc đạo đức khô khan và nhàm chán. Trái lại, người ta sẽ không cảm thấy
khô khan, nhàm chán, nếu người ta xem kinh Mân côi như một sự dâng trào của tình
yêu không ngừng hướng về Đấng mình yêu mến, với những cách diễn tả tuy giống
nhau trong nội dung, nhưng luôn luôn mới mẻ về phương diện cảm xúc.
Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa thật sự đã nhận lấy một "trái tim bằng thịt". Thiên
Chúa không chỉ có một trái tim thần linh, giàu lòng thương xót và tha thứ, song
Người cũng có một trái tim nhân loại, có khả năng biểu lộ những tình cảm sôi nổi.
Nếu chúng ta cần chứng cứ trong Tin mừng, chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy trong
cuộc đối thoại cảm động giữa Đức Ki-tô và Phê-rô sau khi Người sống lại: "Này
anh Si-mon, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không?" Người hỏi Phê-rô đến ba lần,
và ông cũng trả lời ba lần: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy" (x. Ga
21,15-17). Vượt lên trên ý nghĩa đặc thù của đoạn văn, rất quan trọng đối với sứ
mạng của Phê-rô, không ai mà không nhận thấy vẻ đẹp của việc lặp đi lặp lại ba
lần, qua đó câu hỏi nài nỉ và câu trả lời tương ứng được diễn tả bằng thứ ngôn
ngữ quen thuộc trong kinh nghiệm phổ quát của tình yêu nhân loại. Để hiểu Kinh
mân côi, ta phải đi vào trong năng động tâm lý riêng của tình yêu.
Một điều rõ ràng là: cho dù lời kinh Kính mừng được lặp đi lặp lại trực tiếp
dâng lên Đức Ma-ri-a, nhưng hành vi yêu thương rốt cuộc lại hướng về chính Đức
Ki-tô, với Mẹ và qua Mẹ. Việc lặp đi lặp lại được nuôi dưỡng bởi lòng khao khát
được trở nên đồng hình đồng dạng hoàn hảo hơn với Đức Ki-tô, đó là chương trình
đích thật của đời sống ki-tô hữu. Thánh Phao-lô diễn tả dự phóng đó bằng những
lời đầy lửa mến: "Đối với tôi, sống là Chúa Ki-tô, và chết là một mối lợi" (Pl
1,21). Và lại nữa: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống
trong tôi (Gl 2,20). Kinh mân côi giúp chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với
Đức Ki-tô sát hơn, cho đến khi chúng ta đạt được sự thánh thiện thật sự.
Một phương thức có giá trị...
27. Chúng ta đừng ngạc nhiên rằng mối tương giao của chúng ta với Đức Ki-tô cũng
cần có một phương pháp. Thiên Chúa thông ban chính mình cho chúng ta mà vẫn tôn
trọng bản tính nhân loại và nhịp sống của chúng ta. Vì thế, mặc dầu linh đạo
ki-tô giáo quen thuộc với những hình thức tuyệt vời nhất của sự thinh lặng thần
giao, trong đó tất cả các hình ảnh, lời nói và cử chỉ nhường chỗ cho sự kết hiệp
liên lỉ và khôn tả với Thiên Chúa, song linh đạo ấy thường mang dấu ấn của một
sự dấn thân của toàn thể con người cùng với thực trạng phức tạp về tâm lý, thể
lý và tương quan.
Điều này thể hiện rõ ràng trong Phụng vụ. Các bí tích và á bí tích được cấu trúc
như một chuỗi các nghi thức dựa trên các chiều kích của con người. Điều tương tự
như thế cũng áp dụng cho những việc đạo đức khác. Điều này được chứng thực bởi
sự kiện là trong Giáo hội Đông phương, lời cầu nguyện đặc trưng nhất của lối suy
gẫm có tính ki-tô, xoáy quanh những lời: "Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, xin thương xót
con là kẻ tội lỗi", theo truyền thống thường liên kết với nhịp thở; việc thực
hành này vừa tạo thuận lợi cho sự kiên trì trong cầu nguyện, vừa biểu hiện trong
mức độ nào đó lòng khao khát muốn Đức Ki-tô trở thành hơi thở, linh hồn và là "tất
cả" của đời sống.
...tuy nhiên, vẫn còn có thể cải thiện
28. Trong tông thư
Novo Millennio Ineunte, tôi đã đề cập đến một nhu cầu nguyện gẫm mới ở
phương Tây, nhu cầu nầy đôi khi khiến người ta ưa thích các hình thái trong các
tôn giáo khác. 35 Một số ki-tô hữu, vì hiểu biết truyền thống chiêm ngưỡng ki-tô
giáo một cách nông cạn, nên đã bị các hình thức cầu nguyện ấy lôi cuốn. Cho dù
các hình thức cầu nguyện này có nhiều yếu tố tích cực và đôi khi tương hợp với
kinh nghiệm ki-tô giáo, song chúng thường đặt nền tảng trên những tiền đề tuyệt
nhiên không thể chấp nhận được. Thứ đang thịnh hành trong những lối tiếp cận này
là những phương pháp sử dụng kỹ thuật có tính chất tâm lý, lập đi lập lại và
biểu tượng nhằm làm cho tâm trí tập trung cao độ. Kinh Mân côi tuy nằm trong bối
cảnh rộng lớn của hiện tượng tôn giáo, nhưng lại trổi vượt hơn nhờ những đặc
tính riêng phù hợp với những đòi hỏi đặc thù của ki-tô giáo.
Quả thực, Kinh Mân côi đơn thuần là một phương pháp chiêm ngưỡng. Vì là một
phương pháp, kinh Mân côi được dùng như một phương tiện để đạt tới một mục đích,
chứ tự nó không phải là mục đích. Dầu vậy, vì cách thức này là hoa quả của một
kinh nghiệm lâu đời, nên không được xem thường. Ta có thể kể đến kinh nghiệm của
vô vàn thánh nhân bênh vực cho cách thức đó. Tuy nhiên, nói như thế không có
nghĩa là phương pháp ấy chẳng cần phải cải thiện. Đó chính là mục đích của việc
bổ sung một loạt những mầu nhiệm ánh sáng vào toàn thể chu kỳ các mầu
nhiệm và một vài gợi ý tôi đề nghị trong tông thư này liên quan đến cách đọc.
Những gợi ý này, trong khi vẫn tôn trọng cấu trúc đã được thiết lập rất tốt của
lời kinh, có dụng ý muốn giúp tín hữu am hiểu lời kinh trong tính chất biểu
tượng phong phú của nó và trong sự hoà hợp đối với những yêu cầu của cuộc sống
hằng ngày. Nếu không, kinh Mân côi chẳng những có nguy cơ không làm phát sinh
những hiệu quả thiêng liêng, mà ngay cả tràng hạt thường được dùng để đọc kinh,
cũng có thể trở thành một loại bùa phép hay linh vật, như thế là bóp méo hoàn
toàn ý nghĩa và công dụng của nó.
Công bố mỗi mầu nhiệm
29. Việc công bố mỗi mầu nhiệm, và ngay cả việc sử dụng một ảnh tượng thích hợp
để chiêm ngắm, thì giống như thể là mở ra một cảnh tượng để tập trung chú
ý vào đó. Các lời đọc hướng trí tưởng tượng và tâm trí về một giai đoạn hay thời
điểm đặc biệt trong cuộc đời Đức Ki-tô. Trong linh đạo truyền thống của Giáo hội,
việc tôn kính các ảnh tượng và nhiều việc sùng kính mang nhiều yếu tố cảm giác,
cũng như phương pháp cầu nguyện được thánh I-nha-xi-ô đề nghị trong các bài Linh
thao, sử dụng các yếu tố thị giác và tưởng tượng (compositio loci), được
đánh giá là một sự hỗ trợ lớn, giúp tâm trí tập trung vào mầu nhiệm. Ngoài ra,
đây là một phương pháp học phù hợp với cái lô-gic nội tại của mầu nhiệm Nhập
thể: trong Đức Giê-su, Thiên Chúa muốn nhận lấy những nét của con người.
Chính nhờ thân xác của Người mà chúng ta được dẫn đến tiếp xúc với mầu nhiệm
thiên tính của Người.
Việc công bố các mầu nhiệm khác nhau trong kinh Mân côi đáp ứng đòi hỏi tính cụ
thể ấy. Các mầu nhiệm này tất nhiên không thay thế cho Tin mừng và cũng không đề
cập đến toàn bộ nội dung của Tin mừng. Vì thế, Kinh Mân côi không thay thế việc
đọc Kinh thánh, lectio divina; trái lại, Kinh Mân côi giả định trước và cổ võ
việc đọc Kinh thánh. Tuy nhiên, cho dẫu các mầu nhiệm được chiêm ngắm trong Kinh
Mân côi, dù có bổ sung các Mầu nhiệm Ánh sáng, chỉ phác hoạ nên các yếu tố cơ
bản trong cuộc đời Đức Ki-tô, thì nhờ các mầu nhiệm ấy, tâm trí cũng dễ dàng nắm
bắt phần còn lại của Tin mừng, nhất là khi Kinh mân côi được cầu nguyện trong
khung cảnh của một cuộc suy niệm kéo dài.
Lắng nghe Lời Thiên Chúa
30. Để việc suy ngắm có được một nền tảng Kinh Thánh và có chiều sâu hơn, sau
khi xướng tên mầu nhiệm, cần công bố đoạn Kinh Thánh liên quan đến mầu nhiệm
ấy, dài ngắn tùy theo hoàn cảnh. Không lời nào khác có thể sánh được tính
hiệu nghiệm của Lời được linh hứng. Khi lắng nghe, chúng ta xác tín rằng đó là
Lời Thiên Chúa, được công bố cho ngày hôm nay và "cho tôi".
Nếu được đón nhận theo cách thức như thế, Lời Thiên Chúa có thể trở thành một
phần của phương pháp lặp đi lặp lại của Kinh Mân côi, mà không gây ra sự buồn
chán do việc chỉ đơn thần hồi tưởng lại điều gì đã biết quá rõ. Vấn đề không
phải là nhắc lại một thông tin, nhưng là để cho Thiên Chúa nói. Trong
những buổi cử hành chung trọng thể, Lời này có thể được minh hoạ cách tương xứng
bằng việc giảng giải vắn gọn.
Thinh lặng
31. Lắng nghe và suy ngắm được nuôi dưỡng bằng thinh lặng. Sau khi xướng lên mầu
nhiệm và công bố Lời Chúa, quả là thích hợp việc ngừng lại một thời gian thích
đáng để tập trung chú ý vào mầu nhiệm liên hệ, trước khi chuyển sang việc đọc
kinh. Khám phá ra tầm quan trọng của sự thinh lặng là một trong những bí quyết
của thực hành suy ngắm và chiêm ngưỡng. Trong một xã hội bị nền công nghệ và
truyền thông đại chúng thống trị, sự thinh lặng càng ngày càng khó thực hiện hơn.
Cũng như những thời gian thinh lặng được khuyến cáo trong Phụng vụ, trong việc
suy ngắm kinh Mân côi cũng vậy, quả là thích hợp việc ngưng lại một lát sau khi
nghe Lời Thiên Chúa, đang khi tâm trí tập trung vào nội dung của một mầu nhiệm.
Kinh "Lạy Cha"
32. Sau khi lắng nghe Lời Chúa và chú tâm vào mầu nhiệm, lòng trí đương nhiên
được nâng lên cùng Chúa Cha. Trong mỗi mầu nhiệm, Đức Giê-su luôn luôn dẫn dắt
chúng ta đến với Chúa Cha, vì Người ở nơi cung lòng Chúa Cha (x. Ga 1,18) Người
không ngừng hướng về Cha. Người mong muốn chúng ta chia sẻ đời sống thân mật của
Người với Chúa Cha, đến nỗi chúng ta có thể cùng Người thân thưa: "Abba, Cha ơi"
(Rm 8,15; Gl 4,6). Nhờ mối tương giao với Chúa Cha, Người làm cho chúng ta trở
nên anh em và chị em của Người, đồng thời trở nên anh chị em với nhau, bằng cách
thông ban cho chúng ta Thánh Thần của Người và cũng là Thánh Thần của Chúa Cha.
Kinh "Lạy Cha", được xếp đặt như nền móng cho việc suy ngắm có tính ki-tô học và
Thánh mẫu học biểu lộ qua việc lặp đi lặp lại Kinh Kính mừng, biến việc suy ngắm
mầu nhiệm, ngay cả lúc nguyện ngắm một mình, thành một kinh nghiệm có tính Giáo
hội.
Mười "Kinh Kính mừng"
33. Đây là yếu tố trọng yếu nhất trong Kinh mân côi và cũng là yếu tố làm cho
kinh mân côi trở thành lời kinh ưu việt có chiều kích Ma-ri-a. Tuy nhiên, nếu
thấu hiểu Kinh Kính mừng cách đúng đắn, chúng ta sẽ thấy rõ đặc tính thánh mẫu
học của lời kinh không đối nghịch với đặc tính ki-tô học, trái lại nó thật sự
làm nổi bật và gia tăng đặc tính ki-tô học. Phần đầu Kinh kính mừng, được rút ra
từ lời sứ thần Gáp-bri-en và thánh nữ Ê-li-da-bét nói với Đức Ma-ri-a, là một sự
chiêm ngưỡng và thờ lạy đối với mầu nhiệm được thực hiện nơi Trinh nữ làng Na-gia-rét.
Có thể nói là những lời này biểu lộ sự kinh ngạc của trời và đất, đồng thời cho
chúng ta thoáng thấy sự kinh ngạc của chính Thiên Chúa, khi Người chiêm ngắm "kiệt
tác" của Người - Người Con Nhập thể trong cung lòng Trinh nữ Ma-ri-a. Nếu chúng
ta nhớ lại trong sách Sáng thế, Thiên Chúa "đã thấy mọi sự Người đã làm ra" như
thế nào (St 1,31), chúng ta có thể tìm thấy nơi đây âm vang của "pathos, mà ngay
từ khởi nguyên, Thiên Chúa đã đoái nhìn công trình tay Người thực hiện".36 Việc
lặp đi lặp lại Kinh kính mừng cho chúng ta chia sẻ sự kinh ngạc và vui thích của
chính Thiên Chúa: đó là niềm hân hoan, khâm phục và tri ân vì phép lạ vĩ đại
nhất của lịch sử. Ở đây, lời tiên tri của Đức Ma-ri-a được thực hiện trọn vẹn: "Từ
nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc" (Lc 1,48).
Trọng tâm của Kinh Mân côi, ví như bản lề nối kết hai phần, là Danh Chúa
Giê-su. Đôi khi vì nguyện kinh hấp tấp mà đánh mất trọng tâm này, và vì thế
mà không còn liên kết với mầu nhiệm Đức Ki-tô đang được chiêm ngưỡng. Chính sự
nhấn mạnh vào Danh Đức Giê-su và mầu nhiệm của Người mà ta phân biệt được một
việc đọc kinh Mân côi có ý nghĩa và hữu ích. Trong tông huấn Marialis Cultus,
Đức Giáo hoàng Phao-lô VI đã lưu ý đến thói quen của một vài miền trong việc nêu
bật Danh Đức Ki-tô, bằng cách thêm vào một mệnh đề quy chiếu về mầu nhiệm đang
chiêm ngưỡng.37 Đây là một thực hành đáng khen ngợi, nhất là trong những buổi
nguyện kinh chung. Nó biểu lộ một cách sinh đông niềm tin vào Đức Ki-tô, khi
hướng đến các thời điểm khác nhau trong cuộc đời của Đấng Cứu thế. Đồng thời, đó
còn là một việc tuyên tín và là một sự hỗ trợ giúp chú tâm vào việc nguyện ngắm,
tạo điều kiện thuận lời cho việc đồng hoá với mầu nhiệm Đức Ki-tô gắn liền với
việc lặp đi lặp lại Kinh Kính mừng. Lặp đi lăp lại Danh Chúa Giê-su -
Danh duy nhất được ban cho ta hầu ta có thể hy vọng được cứu rỗi (x. Cv 4,12) -
trong sự liên kết mật thiết với danh của Thánh mẫu Người, và hầu như làm theo
gợi ý của Mẹ, chúng ta bước đi trên con đường đồng hoá, tức là giúp chúng ta
chìm sâu hơn vào đời sống của Đức Ki-tô.
Từ mối tương giao đặc biệt và duy nhất của Đức Ma-ri-a với Đức Ki-tô, làm cho Mẹ
trở nên Mẹ Thiên Chúa, Theotĩkos, phát sinh sức mạnh của lời khẩn cầu chúng ta
dâng lên Mẹ trong phần thứ hai của lời kinh, khi chúng ta phó thác đời sống và
giờ lâm tử của chúng ta cho sự chuyển cầu từ mẫu của Mẹ.
Kinh "Sáng danh"
34. Vinh tụng ca Ba Ngôi là mục tiêu của mọi chiêm ngưỡng ki-tô giáo. Bởi vì Đức
Ki-tô là con đường dẫn chúng ta đến Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Nếu chúng ta
đi con đường ấy cho đến cùng, chúng ta gặp gỡ đi gặp gỡ lại mầu nhiệm của Ba
Ngôi Thiên Chúa, Đấng xứng đáng lãnh nhận mọi lời ca ngợi, thờ phượng và cảm tạ.
Quả là quan trọng việc làm nổi bật kinh Sáng danh, cao điểm của chiêm ngưỡng,
trong Kinh mân côi. Khi đọc chung, có thể hát lên, như một cách thức nhấn
mạnh đến cơ cấu Ba Ngôi của mọi lời kinh ki-tô giáo.
Việc suy niệm về mầu nhiệm càng chăm chú và sâu sắc, và càng sinh động - từ
Kinh Kính mừng sang Kinh Kính mừng khác - bởi tình yêu đối với Đức
Ki-tô và Đức Ma-ri-a, lời kinh vinh danh Ba Ngôi ở cuối mỗi chục kinh, thay vì
chỉ là một kết thúc làm chiếu lệ, lại càng có sắc thái chiêm ngưỡng riêng, khi
nâng tâm hồn lên chiều cao của thiên đàng và giúp chúng ta cách nào đó sống lại
kinh nghiệm tại núi Ta-bo, một nếm cảm trước việc chiêm ngưỡng tương lai: "Chúng
con ở đây quả là đẹp!" (Lc 9,33).
Lời kinh ngắn kết thúc
35. Trong việc thực hành hiện nay, Vinh tụng ca Ba Ngôi được tiếp nối bởi một
lời kinh kết thúc ngắn, thay đổi tùy tục lệ địa phương. Không hề giảm bớt giá
trị của những lời khẩn cầu như thế, đáng ghi nhận rằng việc chiêm ngưỡng các mầu
nhiệm có thể được diễn tả tốt hơn sự phong phú thiêng liêng của nó nếu có một nỗ
lực kết thúc mỗi mầu nhiệm bằng một lời kinh nhắm đến hoa quả đặc biệt của mầu
nhiệm đó. Theo cách đó, Kinh mân côi có thể diễn tả tốt hơn mối quan hệ của nó
với đời sống ki-tô giáo. Điều đó được gợi hứng từ một lời kinh Phụng vụ đẹp, mời
gọi chúng ta cầu xin, nhờ suy niệm về các mầu nhiệm của Kinh mân côi, chúng ta
có thể "noi gương điều chúng chứa đựng và đạt đến điều chúng hứa ban".38
Một lời kinh kết thúc như thế có thể có nhiều hình thức khác nhau, như đã thấy
trong thực hành. Như thế Kinh mân côi có thể thích nghi tốt hơn với những truyền
thống thiêng liêng khác nhau và các cộng đoàn ki-tô giáo khác nhau. Vậy mong ước
rằng những công thức thích hợp sẽ được lưu hành rộng rãi, sau khi được xem xét
về phương diện mục vụ và nếu được, sau khi được dùng thử tại những trung tâm và
đền thánh sùng kính đặc biệt Kinh mân côi, để Dân Thiên Chúa có thể hưởng nhờ từ
sự phong phú của những của cải thiêng liêng đích thực và tìm thấy của ăn nuôi
dưỡng đời sống chiêm ngưỡng cá nhân.
Chuỗi mân côi
36. Tràng hạt là phương tiện truyền thống giúp đọc kinh mân côi. Ở bình diện hời
hợt nhất, tràng hạt thường được xem là dụng cụ dùng để đếm các Kinh Kính mừng.
Tuy nhiên nó cũng có thể xem như một biểu tượng giúp đi vào chiều sâu của chiêm
ngưỡng.
Ở đây điều đầu tiên đáng ghi nhận là cách thức các chuỗi hạt đều đổ về tượng
Thánh giá; Thánh giá vừa mở ra vừa đóng lại chuỗi lời kinh. Cuộc sống và lời
cầu nguyện của người tín hữu đều tập trung vào Đức Ki-tô. Mọi sự bắt đầu từ
Người, mọi sự dẫn đến Người, mọi sự nhờ Người, trong Chúa Thánh Thần, đến với
Chúa Cha.
Là một dụng cụ để đếm, ghi dấu tiến trình của lời kinh, tràng hạt gợi lên con
đường vô tận của chiêm ngưỡng và của hoàn thiện Ki-tô giáo. Chân phước Bartolo
Longo cũng đã thấy nó như là "sợi giây" nối kết chúng ta với Thiên Chúa. Một sợi
giây, vâng, nhưng là một sợi giây êm ái; quả thế, êm ái thay mối giây liên kết
ta với Thiên Chúa là Cha của chúng ta. Một sợi giây "con thảo", đặt chúng ta hoà
nhịp với Đức Ma-ri-a, "nữ tì của Chúa" (Lc 1,38) và nhất là, với chính Đức Ki-tô,
Đấng, dầu là Thiên Chúa, đã mặc lấy thân "nô lệ" vì yêu thương chúng ta (Pl
2,7).
Một cách thức tốt để mở rộng ý nghĩa biểu tượng của tràng hạt là để chúng nhắc
nhở chúng ta về những mối tương quan của chúng ta, về mối giây hiệp thông và
huynh đệ kết hiệp tất cả chúng ta trong Đức Ki-tô.
Lời kinh mở đầu và kết thúc
37. Hiện nay, ở nhiều miền khác nhau của Giáo hội, có nhiều cách mở đầu Kinh mân
côi. Ở một vài nơi, người ta có thói quen mở đầu bằng lời khẩn cầu của thánh
vịnh 70: "Lạy Chúa Trời, xin tới giúp con; muôn lạy Chúa, xin mau phù trợ", như
để nuôi dưỡng nơi những người đang cầu nguyện một ý thức khiêm tốn về sự thiếu
thốn của họ. Ở nơi khác, Kinh mân côi bắt đầu bằng việc đọc kinh Tin kính, như
để đặt việc tuyên xưng đức tin làm nền tảng cho cuộc hành trình chiêm ngưỡng mà
ta thực hiện. Những thói quen đó và những thói quen tương tự, trong chừng mực
chúng chuẩn bị tâm hồn để chiêm ngưỡng, dều chính đáng. Rồi Kinh mân côi được
kết thúc bằng một lời kinh theo ý chỉ của đức giáo hoàng, như để mở rộng tầm
nhìn của người cầu nguyện hầu ôm ấp mọi nhu cầu của Giáo hội. Chính là để khuyến
khích chiều kích Giáo hội này của Kinh mân côi mà Giáo hội thấy thích hợp khi
ban những ân xá cho những ai lần hạt theo những quy định đề ra.
Nếu cầu nguyện theo cách ấy, Kinh mân côi đích thực trở thành con đường thiêng
liêng nơi đó Đức Ma-ri-a hành động trong tư cách là Mẹ, Thầy dạy và người Hướng
đạo, khi phù trợ các tín hữu bằng lời chuyển cầu đầy quyền năng của Mẹ. Đáng
ngạc nhiên chăng khi linh hồn, sau khi lần chuỗi và kinh nghiệm sâu xa tình mẫu
tử của Đức Ma-ri-a, cảm thấy nhu cầu cất lời ca ngợi Đức Trinh Nữ, hoặc bằng lời
kinh tuyệt mỹ Salve Regina hoặc bằng Kinh cầu Loreto? Đó là sự
hoàn thành của một cuộc hành trình nội tâm đã dẫn đưa các tín hữu tiếp xúc cách
sống động với mầu nhiệm Đức Ki-tô và Mẹ Người.
Phân bổ trong thời gian
38. Kinh mân côi có thể được đọc trọn mỗi ngày, và có nhiều người đáng ca ngợi
đã thực hiện như thế. Theo cách thức ấy, nó lầp đầy ngày sống của nhiều người
chuyên chăm chiêm ngưỡng bằng lời cầu nguyện, hay đồng hành với người bệnh và
già cả là những người có nhiều giờ rãnh rỗi. Tuy nhiên rõ ràng là -và điều này
càng đúng nếu ta thêm vào loạt mầu nhiệm ánh sáng- nhiều người sẽ không thể đọc
nhiều hơn một phần của Kinh mân côi, phù hợp với một sơ đồ hàng tuần nào đó.
Cách phân bổ theo hàng tuần này có tác dụng là làm cho mỗi ngày khác nhau trong
tuần có một "sắc thái" thiêng liêng nào đó, tương tự như cách mà Phụng vụ tô
điểm những mùa khác nhau của Năm Phụng vụ.
Theo cách thực hành thông thường, Thứ Hai và Thứ Năm được dành cho "các sự Vui",
Thứ Ba và Thứ Sáu cho "các sự thương", và Thứ Tư, Thứ Bảy và Chúa Nhật cho "các
sự mừng". Vậy "các mầu nhiệm sự sáng" có thể được chen vào ở đâu? Nếu chúng ta
để ý rằng "các sự mừng" được đọc cả vào ngày Thứ Bảy lẫn Chúa nhật, và ngày Thứ
Bảy đã luôn có một sắc thái của Đức Ma-ri-a, lần suy niệm thứ hai trong tuần về
"các sự Vui", các mầu nhiệm trong đó sự hiện diện của Đức Ma-ri-a được đặc biệt
cảm nhận, có thể chuyển sang ngày Thứ Bảy. Như thế ngày Thứ Năm sẽ dành để suy
niệm "các mầu nhiệm sự sáng".
Chỉ dẫn này không nhắm giới hạn sự tự do chính đáng trong việc cầu nguyện riêng
tư và cộng đoàn, nơi đó cần tính đến nhu cầu thiêng liêng và mục vụ và trường
hợp các cử hành Phụng vụ đặc biệt mà đòi hỏi một sự thích ứng tương xứng. Điều
thực sự quan trọng là Kinh mân côi phải luôn được xem và kinh nghiệm như một con
đường chiêm ngưỡng. Trong Kinh mân côi, theo một cách thức tương tự như điều xảy
ra trong Phụng vụ, tuần lễ ki-tô giáo, cao điểm là ngày Chúa nhật, ngày cử hành
mầu nhiệm sống lại, trở thành một cuộc hành trình đi qua các mầu nhiệm của cuộc
đời Đức Ki-tô, và Người được mặc khải trong đời sống của các môn đệ như là Chúa
của thời gian và lịch sử.
Còn tiếp ...
|